Bảo vệ Tổ quốc sau năm 1975 và chủ quyền biển đảo trong một khung ba trục, ba lớp | LUKATO AI
Lịch sử 12: đọc Bảo vệ Tổ quốc sau năm 1975 và chủ quyền biển đảo trong một bảng ba trục, ba lớp, kèm phần đọc sơ đồ mặt cắt các vùng biển, bảy phòng lab…
LUKATO AI · LỊCH SỬ 12 · BẢO VỆ TỔ QUỐC VÀ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO
BA TRỤC · BA LỚP · NĂM VÙNG BIỂN
Bảo vệ Tổ quốc sau năm 1975 và chủ quyền biển đảo trong một khung ba trục, ba lớp :
sự kiện , căn cứ ,
ứng xử và kết quả
Các câu hỏi về cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc từ sau tháng 4-1975 và về Biển Đông được hỏi theo nhiều kiểu: «sự kiện nào diễn ra vào ngày…», «đâu là căn cứ pháp lí quốc tế», «nhận xét nào không đúng về kết quả», «một điểm cách đường cơ sở bao nhiêu hải lí thì thuộc vùng nào». Chuyên đề này dùng một khung gồm ba trục (biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc, biển đảo) và ba lớp (sự kiện, căn cứ, ứng xử và kết quả) để đặt mỗi mệnh đề vào đúng ô, rồi thêm phần năm vùng biển để đọc các câu có số liệu. Nội dung bám sách giáo khoa (các bài về bảo vệ Tổ quốc từ sau tháng 4-1975 và về chủ quyền biển đảo); điều nào ngoài sách được ghi là kiến thức bổ sung. Em sẽ xếp mệnh đề vào ô, kéo ngày trên trục Tây Nam, nối địa danh với trục, ghép chính quyền với việc làm ở hai quần đảo, đoán loại văn bản và đọc sơ đồ mặt cắt các vùng biển.
- ① TRỤC: biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc, biển đảo
- ② LỚP: sự kiện, căn cứ, ứng xử và kết quả
- ③ CĂN CỨ (cách phân loại của LUKATO): lịch sử, pháp lí trong nước, pháp lí quốc tế
- ④ VÙNG BIỂN: năm vùng, tính từ đường cơ sở
ô (ba trục, ba lớp) cho các câu hỏi về bảo vệ Tổ quốc
7 lab
phòng lab: xếp ô, trục ngày, địa danh, chính quyền, văn bản, vùng biển, bẫy
15 bẫy
mỗi bẫy gắn với một ô hoặc với dải chung
16 bài
10 chọn đáp án, 3 đúng sai, 3 trả lời ngắn
01
Bản đồ chuyên đề
Ba trục, ba lớp: một bảng cho các câu về bảo vệ Tổ quốc
Mở một bộ câu hỏi về cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc từ sau tháng 4-1975 và gạch từng câu. Có câu hỏi «chiến trường tháng 2 – 3-1979 gồm những địa bàn nào», câu hỏi «sự kiện nào là căn cứ pháp lí quốc tế», câu cho đoạn thông tin rồi bảo xét bốn mệnh đề đúng sai, câu đổi hải lí ra km. Nhìn qua tưởng là những mẩu kiến thức rời, nhưng chúng đều là một ô của một bảng . Bảng có ba hàng là ba trục mà sách giáo khoa trình bày: biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc, biển đảo. Bảng có ba cột là ba câu hỏi có thể đặt ra ở mỗi trục: sự kiện nào, dựa vào đâu, ứng xử ra sao và kết quả gì. Biết mệnh đề nằm ở ô nào thì biết phải đối chiếu với đoạn nào của sách.
↔ Hình rộng hơn màn hình: vuốt ngang để xem đầy đủ.
Bảng ba trục, ba lớp. Mỗi ô ghi cụm ngắn của sách giáo khoa; phần đầy đủ được giảng ở mục 3 đến mục 6. Phần bối cảnh, ý nghĩa và bài học không nằm trong ô nào mà thuộc dải chung; phần vùng biển ở mục 7 cũng đứng ngoài chín ô.
Ba lớp, ba câu hỏi
Lớp
Câu hỏi
Gồm những gì
Nhầm lẫn hay gặp
SỰ KIỆN
Ở đâu, khi nào, việc gì?
Ngày tháng, địa danh, việc xảy ra: 30-4-1977 ở An Giang, sáng 17-2-1979 dọc tuyến biên giới, tháng 3-1988 ở Trường Sa
Xếp theo chữ «đảo» trong địa danh thay vì theo cách sách xếp sự kiện; nhầm hai ngày sát nhau
CĂN CỨ
Dựa vào đâu?
Lí do hoặc chỗ dựa: quyền tự vệ chính đáng, yêu cầu của Mặt trận Cam-pu-chia, «để bảo vệ Tổ quốc» cùng lực lượng trực tiếp là quân dân sáu tỉnh biên giới phía Bắc, căn cứ lịch sử, văn bản pháp lí trong nước, văn bản pháp lí quốc tế
Lẫn năm kí với năm phê chuẩn; lẫn văn bản trong nước với văn bản quốc tế
ỨNG XỬ VÀ KẾT QUẢ
Làm thế nào, đạt được gì?
Cách làm theo nguyên tắc sách nêu và điều đạt được: tổng phản công, rút quân, thông báo cho Liên hợp quốc, DOC, thắng lợi
Xem kết quả của bước này là căn cứ của bước sau; xem ngày tuyên bố rút quân là ngày hết căng thẳng
Ba trục, ba phạm vi
Trục
Thời gian
Phạm vi theo sách giáo khoa
Biên giới Tây Nam
1975 – 1979
Đất liền và đảo Phú Quốc, đảo Thổ Chu; hai giai đoạn, 30-4-1977 đến 5-1-1978 và 6-1-1978 đến 7-1-1979
Biên giới phía Bắc
từ 17-2-1979 đến cuối năm 1989
Tuyến biên giới dài hơn 1 000 km, từ Móng Cái đến Phong Thổ; trọng điểm Vị Xuyên
Biển đảo
1975 đến nay
Quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa và các vùng biển; căn cứ lịch sử, pháp lí; ứng xử bằng biện pháp hòa bình
Ô nào mỏng, ô nào dày
Ô CĂN CỨ của trục biển đảo dày nhất, vì sách nêu cả căn cứ lịch sử lẫn hai loại căn cứ pháp lí. Ô CĂN CỨ của trục phía Bắc mỏng: sách nêu lí do bằng cụm «để bảo vệ Tổ quốc», nêu lực lượng trực tiếp là quân dân sáu tỉnh biên giới phía Bắc và không nêu một văn bản pháp lí riêng. Ô CĂN CỨ của trục Tây Nam nằm ở giữa: «thực hiện quyền tự vệ chính đáng» và «theo yêu cầu của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Cam-pu-chia». Khi một mệnh đề nhắc tới một văn bản có năm, hãy hỏi văn bản ấy do ai ban hành và thuộc loại nào; mục 6 làm kĩ việc này.
Đoán trước khi đọc tiếp
Mệnh đề «Năm 2012, Quốc hội thông qua Luật Biển Việt Nam» thuộc ô nào?
Phòng lab 1: bộ xếp mệnh đề vào bảng ba trục, ba lớp
Đoán trước: đọc mệnh đề, nói thành lời nó thuộc trục nào và trả lời câu hỏi nào. Sau đó bấm một nút trục và một nút lớp . Phòng lab báo ô đúng sau khi em đã chọn cả hai, và giải thích bằng câu hỏi của ô. Mười ba mệnh đề gồm ba mệnh đề của trục Tây Nam, bốn mệnh đề của trục phía Bắc và sáu mệnh đề của trục biển đảo, trong đó có cả những mệnh đề dễ lẫn giữa sự kiện và căn cứ.
Phòng lab 1 · bộ xếp mệnh đề vào bảng ba trục, ba lớp BẤM ĐỂ THỬ
↔ Hình rộng hơn màn hình: vuốt ngang để xem đầy đủ. Kết quả cũng được ghi ở các ô và dòng kết luận bên dưới.
Mệnh đề:
Trục em đoán:
Lớp em đoán:
Trục đúng
Lớp đúng
Em chọn
Khớp?
Cách dùng phòng lab
Với mỗi mệnh đề, hãy gọi tên trục bằng địa bàn (đất liền phía Tây Nam, tuyến phía Bắc, hai quần đảo), rồi mới gọi tên lớp bằng câu hỏi (việc gì, dựa vào đâu, làm thế nào và đạt gì). Nếu đúng trục nhưng sai lớp, em đã nhớ kiến thức nhưng chưa phân loại được; nếu sai trục, em cần quay lại mục 3, mục 4 hoặc mục 5. Phòng lab này luyện bẫy 4, 5, 6, 7, 8, 9 và 11.
Thử tay: một đoạn sách đi qua ba lớp
Tháng 3-1988, quân đội Trung Quốc huy động lực lượng lớn tấn công các đảo Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao thuộc quần đảo Trường Sa. Ngay lúc đó, Chính phủ Việt Nam thông báo cho Liên hợp quốc về vấn đề này, gửi nhiều công hàm phản đối và đề nghị hai bên thương lượng để giải quyết bằng biện pháp hòa bình. Hãy nói thành lời mỗi câu thuộc ô nào.
Gợi ý 1 · Trục và ô SỰ KIỆN
Địa bàn là các đảo của quần đảo Trường Sa, nên trục là biển đảo. Câu kể có tháng, nơi chốn và việc xảy ra thuộc ô C1.
Gợi ý 2 · Ô ỨNG XỬ VÀ KẾT QUẢ
Thông báo cho Liên hợp quốc, gửi công hàm phản đối và đề nghị thương lượng là những việc làm cụ thể theo nguyên tắc hòa bình: ô C3.
Đáp án · ô CĂN CỨ và chuỗi đầy đủ
Đoạn này không nêu văn bản làm căn cứ; căn cứ của trục biển đảo (lịch sử, Tuyên bố 1977, UNCLOS, Luật Biển) nằm ở đoạn khác của sách. Chuỗi: C1 tháng 3-1988 ở Trường Sa; C2 để trống trong đoạn này; C3 thông báo, công hàm, đề nghị thương lượng hòa bình. Một đoạn sách có thể phủ hai trong ba lớp.
02
Dải chung · bối cảnh
Bối cảnh sau tháng 4-1975 và ba trục trên một trục thời gian
Trước khi vào từng trục, cần biết hoàn cảnh chung mà sách giáo khoa nêu. Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và hoàn thành thống nhất đất nước về mặt Nhà nước, Việt Nam chuyển sang giai đoạn độc lập, thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội . Độc lập và thống nhất trở thành điều kiện cơ bản nhằm phát huy sức mạnh toàn diện của đất nước để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong thời kì lịch sử mới. Phần bối cảnh không thuộc ô nào trong chín ô: nó là dải chung nằm bên dưới cả ba trục.
Trong nước
Điều kiện và khó khăn
Độc lập, thống nhất là điều kiện cơ bản. Hậu quả của chiến tranh trên cả nước còn rất nặng nề. Đất nước bị Mỹ bao vây, cấm vận. Mối quan hệ giữa Việt Nam, Trung Quốc và Cam-pu-chia xuất hiện một số vấn đề phức tạp.
Thế giới
Hòa hoãn và bất ổn
Xu thế hòa hoãn Đông – Tây xuất hiện từ đầu những năm 70 của thế kỉ XX. Tuy vậy tình trạng bất ổn, xung đột vẫn diễn ra ở nhiều nơi trên thế giới.
Ba trục trên một đường thời gian
↔ Hình rộng hơn màn hình: vuốt ngang để xem đầy đủ.
Ba trục trên một đường thời gian từ 1975. Mười hai vòng tròn đánh số là các mốc, có chú giải dưới hình; ba dải ngang chạy song song hoặc nối tiếp nhau ở các năm cuối thập niên 70.
Hình cho thấy ba điều. Một , trục Tây Nam và trục biển đảo cùng bắt đầu từ năm 1975, nhưng trục Tây Nam kết thúc ngày 7-1-1979 còn trục biển đảo kéo dài đến nay. Hai , trục phía Bắc bắt đầu với cuộc tấn công sáng ngày 17-2-1979, tức ngay sau khi trục Tây Nam khép lại, và căng thẳng kéo dài tới cuối năm 1989. Ba , dải Tây Nam khép lại tháng 1-1979 và dải phía Bắc mở ra tháng 2-1979, liền nhau, còn dải biển đảo chạy song song với cả hai: khi cùng một thập niên, vẫn phải hỏi sự kiện xảy ra ở đâu để xếp trục.
Trục
Mốc mở đầu
Mốc kết thúc hoặc đang kéo dài
Tây Nam
Từ tháng 5-1975 hành quân khiêu khích; 30-4-1977 mở đầu giai đoạn 1
7-1-1979: Thủ đô Phnôm Pênh được hoàn toàn giải phóng
Phía Bắc
Sáng 17-2-1979 tấn công dọc tuyến hơn 1 000 km
5-3-1979 tuyên bố rút quân; căng thẳng kéo dài tới cuối năm 1989
Biển đảo
Sau Đại thắng Xuân 1975, Nhà nước quản lí cả hai quần đảo
Luật Biển Việt Nam 2012; thúc đẩy thực hiện DOC cho đến nay
Bối cảnh trả lời câu hỏi «vì sao lúc đó»
Khi một câu hỏi bắt đầu bằng «trong hoàn cảnh nào» hoặc «điều kiện nào», hãy lấy ý từ dải chung. Hậu quả chiến tranh, Mỹ bao vây cấm vận, một số vấn đề phức tạp trong quan hệ ba nước, xu thế hòa hoãn Đông – Tây cùng với bất ổn ở nhiều nơi là hoàn cảnh chung của cả ba trục. Sự kiện cụ thể, ngày tháng và địa danh thuộc các ô của từng trục.
Chỗ hay trượt ở dải chung
Bẫy 15: nghĩ rằng sau tháng 4-1975 đất nước đã hết khó khăn, hoặc coi cuộc chiến đấu ở Tây Nam là việc riêng của Việt Nam, tách khỏi tinh thần quốc tế. Sách nêu hậu quả chiến tranh còn rất nặng nề và Mỹ bao vây, cấm vận. Về tính chất, phần Nhà mồ Ba Chúc nêu công trình khẳng định tinh thần quốc tế cao cả của nhân dân Việt Nam, và sách nêu quân tình nguyện Việt Nam cùng quân dân Cam-pu-chia đánh đổ chính quyền Pôn Pốt. Từ hai dữ kiện này, LUKATO suy ra cuộc chiến đấu ở Tây Nam vừa bảo vệ Tổ quốc vừa gắn với tinh thần quốc tế. Bài 1 và Bài 3 ở mục 10 đòi đọc đúng hai vế này.
Bẫy 15 còn được phòng lab 7 (mục 9) kiểm bằng cách cho em đoán ô rồi xem phản ví dụ. Mục 3 sẽ đi chậm hơn từng ô của trục Tây Nam.
03
Trục A · biên giới Tây Nam · 1975 – 1979
Biên giới Tây Nam: hai giai đoạn, hai bước của giai đoạn 2
Sách giáo khoa mở đầu trục này bằng một câu: sau khi lên nắm quyền (tháng 4-1975), chính quyền Pôn Pốt phát động chiến tranh xâm lược biên giới Tây Nam của Việt Nam. Từ tháng 5-1975 , quân Pôn Pốt gây ra nhiều vụ hành quân khiêu khích, xâm phạm lãnh thổ: đánh chiếm đảo Phú Quốc, đảo Thổ Chu và xâm nhập nhiều vùng biên giới trên đất liền. Ngày 30-4-1977 , quân Pôn Pốt mở cuộc tiến công trên toàn tuyến biên giới tỉnh An Giang. Từ đó cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc ở vùng biên giới Tây Nam diễn ra qua hai giai đoạn .
↔ Hình rộng hơn màn hình: vuốt ngang để xem đầy đủ.
Trục Tây Nam theo ngày. Giai đoạn 1 gồm 251 ngày, giai đoạn 2 gồm 367 ngày, tính cả ngày đầu và ngày cuối. Ba thẻ dưới hình là ba ô A1, A2, A3 của từng đoạn.
Hai giai đoạn, ba ô
Đoạn
SỰ KIỆN
CĂN CỨ
ỨNG XỬ VÀ KẾT QUẢ
Trước giai đoạn 1
Từ tháng 5-1975: hành quân khiêu khích, đánh chiếm đảo Phú Quốc, đảo Thổ Chu, xâm nhập nhiều vùng biên giới trên đất liền
Sách không nêu thêm căn cứ riêng cho đoạn này
Đoạn mở đầu của cuộc đấu tranh
Giai đoạn 1 (30-4-1977 đến 5-1-1978)
Tiến công trên toàn tuyến biên giới tỉnh An Giang; tấn công nhiều tuyến biên giới
Bảo vệ Tổ quốc
Tổ chức lực lượng vũ trang đánh lui quân địch; đồng thời nỗ lực hoạt động ngoại giao nhằm tìm kiếm giải pháp hòa bình
Giai đoạn 2, bước 1 (từ 6-1-1978; tổng phản công sau 22-12-1978)
Xâm lược trên toàn tuyến; ngày 22-12-1978, 19 sư đoàn bộ binh cùng pháo binh, xe tăng tấn công quy mô lớn vào Tây Ninh
Thực hiện quyền tự vệ chính đáng
Quân dân Việt Nam mở cuộc tổng phản công, làm tan rã đại bộ phận quân chủ lực đối phương
Giai đoạn 2, bước 2 (đến 7-1-1979)
Quân tình nguyện Việt Nam cùng quân dân Cam-pu-chia đánh đổ chính quyền Pôn Pốt
Theo yêu cầu của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Cam-pu-chia
Ngày 7-1-1979, Thủ đô Phnôm Pênh được hoàn toàn giải phóng
Hai bước của giai đoạn 2 được ghi theo thứ tự sách kể. Ranh giới ngày giữa hai bước không được sách nêu, nên các câu hỏi xoay quanh việc bước nào có căn cứ nào.
Cách nhớ hai mốc sát nhau
Giai đoạn 1 kết thúc ngày 5-1-1978 , giai đoạn 2 bắt đầu ngày 6-1-1978 : hai ngày liền nhau thuộc hai giai đoạn. Từ 30-4-1977 đến 5-1-1978 là 251 ngày; từ 6-1-1978 đến 7-1-1979 là 367 ngày (tính cả ngày đầu và ngày cuối). Mốc 22-12-1978 (Tây Ninh) nằm gần cuối giai đoạn 2, không phải mốc mở đầu của cuộc đấu tranh; mốc mở đầu giai đoạn 1 là 30-4-1977.