Lịch sử 11: Chủ nghĩa xã hội từ 1917 đến nay là bài toán chọn cơ chế: Sở hữu, Điều phối, Động lực từ NEP, kế hoạch hóa đến Cải tổ, Cải cách mở cửa và Đổi Mới
Chuyên đề Lịch sử 11 cho kì thi THPT: thay vì học thuộc từng mốc của Liên Xô, Đông Âu, Trung Quốc và Việt Nam, ta đọc mỗi chặng của chủ nghĩa xã hội như một…
LUKATO AI · LỊCH SỬ 11 · CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
SỞ HỮU · ĐIỀU PHỐI · ĐỘNG LỰC
Chủ nghĩa xã hội là
bài toán
chọn cơ chế
Từ Cách mạng tháng Mười đến Đổi Mới, các nước xã hội chủ nghĩa không đi một đường thẳng mà liên tục vặn lại cơ chế. Chuyên đề này đọc mỗi chặng bằng ba núm Sở hữu, Điều phối, Động lực, rồi dùng ba phòng thí nghiệm để thấy vì sao NEP, giá hai tầng và Đổi Mới ra đời, và vì sao kế hoạch chỉ huy chậm lại. Mọi kết quả trong phòng lab được kiểm bằng code.
- 1. Ba núm vặn: Sở hữu, Điều phối, Động lực để đọc mọi chính sách từ NEP đến Đổi Mới
- 2. Giá hai tầng: hạn ngạch chia thu nhập, giá biên ấn định sản lượng
- 3. Dồn vốn rồi chậm lại: lợi suất giảm dần và con đường sụp đổ hay đổi mới của Liên Xô, Đông Âu, Trung Quốc, Việt Nam
phòng thí nghiệm tương tác
bí kíp có chỗ vỡ
hiểu lầm được phản biện
01
Khái niệm lõi
Chủ nghĩa xã hội là bài toán chọn cơ chế: Sở hữu, Điều phối, Động lực
Sách giáo khoa Lịch sử 11 kể chủ nghĩa xã hội từ 1917 đến nay theo một chuỗi mốc: Cách mạng tháng Mười, Chính sách kinh tế mới, kế hoạch 5 năm, cải tổ, sụp đổ năm 1991, cải cách ở Trung Quốc, Đổi Mới ở Việt Nam. Học kiểu liệt kê dễ lẫn: chính sách nào của chặng nào, vì sao đổi hướng. Bài này đổi góc nhìn: mỗi chặng là một cách vặn ba núm của cơ chế kinh tế: Sở hữu, Điều phối, Động lực . Nhìn bằng ba núm, bạn thấy cái gì được nới, cái gì được siết, và vì sao một chính sách ra đời khi chính sách trước gặp trục trặc.
Chủ nghĩa xã hội là mục tiêu và con đường; cơ chế vận hành cụ thể là thứ phải chọn và chỉnh. Ba núm bên trái cho ta một ngôn ngữ chung để so sánh năm cách vặn bên phải.
SỞ HỮU
Ai nắm tư liệu sản xuất?
Nhà nước (quốc hữu hóa), tập thể (hợp tác xã, nông trang) hay tư nhân. Núm này quyết định ai chịu trách nhiệm về lãi và lỗ.
ĐIỀU PHỐI
Ai quyết định làm gì, giá nào?
Mệnh lệnh kế hoạch (chỉ tiêu pháp lệnh) hay giá thị trường. Núm này quyết định thông tin chạy theo đường nào và ai nhìn thấy nó.
ĐỘNG LỰC
Làm tốt thì ai được hưởng?
Thưởng theo chỉ tiêu, khẩu phần, hay giữ phần vượt để bán. Núm này quyết định người làm có lí do làm tốt hơn hay không.
MỤC TIÊU
Mục tiêu giữ, cơ chế đổi
Các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam diễn đạt rằng đổi mới là đổi cơ chế và cách làm, giữ mục tiêu xã hội chủ nghĩa. Đây cũng là cách đọc thuận tiện cho NEP, cải cách của Trung Quốc và Đổi Mới.
Sáu chặng trên cùng một bảng
Chặng · SỞ HỮU · ĐIỀU PHỐI · ĐỘNG LỰC · Kết quả chính
Cộng sản thời chiến · 1918–1921 · Quốc hữu hóa phần lớn công nghiệp; cấm buôn bán tư nhân · Trưng thu lương thực thừa; phân phối bằng mệnh lệnh · Cưỡng bức; nông dân thu hẹp sản xuất · Thắng trong nội chiến nhưng kinh tế kiệt quệ; nạn đói 1921–1922 và bất mãn (Cronstadt, 3/1921)
NEP · 1921–1927 · Nhà nước giữ công nghiệp lớn, ngân hàng, ngoại thương; tư nhân được sản xuất, buôn bán nhỏ · Thuế lương thực thay trưng thu; phần dư bán trên thị trường · Nông dân giữ phần dư để bán · Kinh tế dần khôi phục; từ 1928 NEP bị bãi bỏ dần
Kế hoạch chỉ huy · 1928–1984 · Công nghiệp quốc hữu; tập thể hóa nông nghiệp từ 1929 · Kế hoạch 5 năm, chỉ tiêu pháp lệnh, giá do nhà nước định · Thưởng theo mức hoàn thành chỉ tiêu · Công nghiệp hóa nhanh và nhiều thành tựu; về sau trì trệ
Cải tổ · 1985–1990 · Cho phép hợp tác xã, kinh doanh tư nhân nhỏ (từ 1988) · Xí nghiệp tự hạch toán, nhưng giá vẫn chủ yếu do nhà nước · Chưa có cơ chế mới thay thế hẳn · Hàng hóa khan hiếm kéo dài, khủng hoảng sâu hơn
Cải cách mở cửa của Trung Quốc · từ 1978 · Khoán hộ ở nông thôn; đặc khu; về sau nhiều thành phần · Giá hai tầng, rồi mục tiêu kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa (10/1992) · Bán phần vượt khoán theo giá thị trường · Tăng trưởng nhanh, giảm nghèo, giữ ổn định chính trị – xã hội
Đổi Mới của Việt Nam · từ 1986 · Nhiều thành phần kinh tế; hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ (1988) · Cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước · Thu nhập gắn với kết quả; mở cửa cho vốn nước ngoài · Thoát khủng hoảng kinh tế – xã hội, thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình
Cách dùng bảng: gặp câu hỏi về nội dung chính sách, xác định chính sách ấy vặn núm nào; gặp câu hỏi về kết quả hay nguyên nhân thất bại, hỏi núm nào trục trặc. Mốc năm và tên chính sách nằm ở phần "Chi tiết phải thuộc".
Vì sao chọn ba núm này
Mọi nền kinh tế phải trả lời ba câu hỏi: ai nắm tư liệu sản xuất, ai quyết định sản xuất và bán thế nào, ai được hưởng khi làm tốt. Hai cơ chế khác nhau ở câu trả lời của mình, nên cùng một thước đo đặt được Cộng sản thời chiến cạnh Đổi Mới.
Đây là khung đọc, không phải công thức
Các sách chia chặng không hoàn toàn giống nhau (có sách chia Liên Xô theo 1921–1941, 1945–1991). Khung ba núm giúp hiểu và so sánh; năm tháng, tên chính sách và tên văn kiện vẫn phải thuộc và đối chiếu với đề.
Năm 1921 Liên Xô chuyển từ Cộng sản thời chiến sang NEP nhưng vẫn là nhà nước xã hội chủ nghĩa. Núm nào đã đổi, núm nào được giữ?
Gợi ý 1 · Nhìn nông thôn
Trưng thu lương thực khiến nông dân thu hẹp gieo trồng và bất mãn; năm 1921 có cuộc nổi dậy ở Cronstadt và nạn đói lớn (1921–1922).
Gợi ý 2 · Nhìn thay đổi
Sắc lệnh 21/3/1921 thay trưng thu bằng thuế lương thực, phần dư thuộc nông dân và được bán trên thị trường. Nhà nước vẫn giữ công nghiệp lớn, ngân hàng và ngoại thương.
Kết luận
Núm Điều phối và núm Động lực ở nông nghiệp được nới; núm Sở hữu ở phần cốt lõi (công nghiệp lớn, ngân hàng, ngoại thương) được giữ. Đổi cơ chế mà giữ phần lõi của chế độ.
02
Bốn nơi trên một đồng hồ
Cơ chế được vặn qua lại, không đi một chiều
Các nước xã hội chủ nghĩa không đổi cơ chế cùng lúc, và cũng không đổi theo một chiều. Phòng này đặt bốn dải thời gian cạnh nhau. Kéo thanh trượt năm để con trỏ vàng chạy dọc bốn dải; mỗi dải chia theo cơ chế (quy ước: lấy cơ chế có hiệu lực vào cuối năm), các biểu tượng phía trên là mốc sự kiện (tròn đỏ: biến động, khủng hoảng; vuông xanh: chính sách, cơ chế kinh tế; thoi tím: thiết chế, liên minh, thành tựu). Năm nút lọc theo nơi; khi chọn một nơi, khung kết quả hiện thêm ba núm vặn của thời kì đang đứng. Thử ba việc: chọn Liên Xô, đặt 1920 rồi 1921 để thấy Cộng sản thời chiến chuyển sang NEP; đặt 1989 ở "Cả bốn nơi" để thấy ba biến cố ở Đông Âu trong khi Liên Xô còn ở thời cải tổ; chọn Việt Nam, đặt 1985 rồi 1986 để thấy bao cấp chuyển sang Đổi Mới.
Bên trái: năm chặng của Liên Xô, cũng là các dải màu trong Lab 1. Bên phải: bốn nơi đổi cơ chế cách nhau chỉ vài năm nhưng có kết cục khác nhau.
Phòng thí nghiệm 1 · Đồng hồ cơ chế 1917–2025 LAB 1
Năm
Liên Xô
Đông Âu
Trung Quốc
Việt Nam
Đúng năm này
Mốc trước và sau
Con số đáng nhớ: từ Cách mạng tháng Mười (1917) đến lúc Liên Xô giải thể (1991) là 74 năm; riêng Liên Xô tồn tại từ 30/12/1922 đến 26/12/1991, khoảng 69 năm. Từ kế hoạch 5 năm đầu tiên (1928) đến khi Gorbachev lên cầm quyền (1985) là 57 năm. Trung Quốc mất 14 năm (1978–1992) để đi từ cải cách mở cửa đến mục tiêu kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa; Việt Nam mất 10 năm từ thống nhất đất nước (1976) đến Đổi Mới (1986).
Vì sao cơ chế không đi một chiều
Từ Cộng sản thời chiến (1918) sang NEP (1921) là nới; từ NEP sang kế hoạch chỉ huy (1928) là siết lại; từ 1978 trở đi lại nới dần. Đường đi không thẳng vì mỗi cách vặn giải quyết một vấn đề và để lại vấn đề khác: nới thì khó dồn nguồn lực cho công nghiệp hóa nhanh, siết thì thiếu tín hiệu giá và động lực.
Quy ước và giới hạn của các dải
Dải "Đông Âu" gom các nước thuộc khối SEV và Hiệp ước Vácsava; Nam Tư đi con đường riêng từ 1948 nên không tính, và các nước khác nhau ở nhiều chi tiết (ở Ba Lan phần lớn đất nông nghiệp vẫn của nông dân cá thể). Dải Việt Nam đọc theo miền Bắc đến 1975, vì miền Nam khi ấy theo chế độ khác. Dải Liên Xô sau 1991 ghi "đã giải thể".
Năm 1921 (Liên Xô) và năm 1978 (Trung Quốc) cách nhau 57 năm. Hai lần nới cơ chế ấy giống nhau ở điểm nào?
Gợi ý 1 · Nhìn phần biên
Cả hai đều cho thị trường chạy cạnh kế hoạch ở phần biên: NEP cho nông dân bán phần dư sau khi nộp thuế; Trung Quốc cho bán phần vượt khoán và phần ngoài kế hoạch theo giá thị trường.
Gợi ý 2 · Nhìn phần lõi
Cả hai đều giữ phần lõi: Liên Xô giữ công nghiệp lớn, ngân hàng, ngoại thương; Trung Quốc giữ các ngành then chốt và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Kết luận
Cùng nới núm Điều phối và Động lực ở phần biên (nông nghiệp, phần sản lượng ngoài kế hoạch) và giữ núm Sở hữu ở phần lõi. Khác ở chỗ NEP bị bãi bỏ dần từ 1928, còn cải cách của Trung Quốc được đẩy xa hơn đến mục tiêu năm 1992.
03
Cải cách trong thực tế
Giá hai tầng: hạn ngạch chia thu nhập, giá biên ấn định sản lượng
Khi một nền kinh tế chỉ huy muốn thả thị trường, khó nhất là thả mà không làm ai thiệt ngay. Trung Quốc những năm 1980 chọn giá hai tầng : xí nghiệp vẫn giao một phần sản lượng cho nhà nước theo giá kế hoạch (gọi là hạn ngạch ), còn phần vượt hạn ngạch bán theo giá thị trường. Phòng này mô phỏng một xí nghiệp có chi phí cận biên tăng dần: làm thêm đơn vị thứ q tốn thêm 20 cộng q. Xí nghiệp làm thêm chừng nào chi phí làm thêm còn thấp hơn giá thị trường, nên mức đáng làm là giá thị trường trừ 20 . Ba thanh trượt đặt hạn ngạch, giá kế hoạch và giá thị trường; ba thanh ngang phía dưới so thu nhập của xí nghiệp ở kế hoạch thuần, giá hai tầng và thị trường tự do. Thử ba việc: nhấn "Khởi đầu" để thấy xí nghiệp làm 60 đơn vị dù hạn ngạch chỉ 40; kéo hạn ngạch từ 40 lên 60 để thấy sản lượng không đổi nhưng thu nhập rơi từ 600 xuống 0; bấm Phát để giá thị trường chạy từ 40 đến 120 và thấy sản lượng bám theo giá.
Lab 2 là một mô hình minh họa cho cách làm "giá hai tầng": cải cách thêm một đường thị trường ở phần biên mà chưa phải xóa ngay kế hoạch.
Phòng thí nghiệm 2 · Giá hai tầng: hạn ngạch chia, giá biên dẫn LAB 2
Hạn ngạch bán cho nhà nước
Giá kế hoạch
Giá thị trường
Mức thị trường đáng làm
Sản lượng: kế hoạch thuần sang hai tầng
Phần bán ngoài kế hoạch
Thu nhập tăng so với kế hoạch
Nhường so với thị trường tự do
Ai ấn định sản lượng
Ba chế độ trên một bảng
Chế độ · Sản lượng · Thu nhập của xí nghiệp · Ai ấn định sản lượng · Ví dụ Lab 2 (giá 50 và 80)
Kế hoạch thuần · Đúng hạn ngạch · Giá kế hoạch nhân hạn ngạch, trừ chi phí · Nhà nước · Hạn ngạch 40: sản lượng 40, thu nhập 400
Giá hai tầng · Lớn hơn trong hai số: hạn ngạch và mức thị trường đáng làm · Như kế hoạch thuần, cộng lãi ở phần vượt hạn ngạch · Giá thị trường, nếu hạn ngạch không vượt mức đáng làm · Sản lượng 60, thu nhập 600
Thị trường tự do · Mức mà chi phí cận biên bằng giá thị trường · Giá thị trường nhân sản lượng, trừ chi phí · Giá thị trường · Sản lượng 60, thu nhập 1800
Lưu ý về mô hình: chi phí cận biên 20 cộng q, các mức giá và hạn ngạch là con số minh họa để tính toán, không phải số liệu lịch sử, và mô hình chỉ có một xí nghiệp. Ý tưởng nằm ở bài "Reform without Losers" của Lau, Qian và Roland (Journal of Political Economy, 2000); điều lịch sử chắc chắn là Trung Quốc từng áp dụng giá hai tầng, trong kế hoạch theo giá nhà nước, ngoài kế hoạch theo giá thị trường.
Vì sao hai tầng giúp cải cách êm hơn
So với kế hoạch thuần, xí nghiệp không bao giờ thiệt: thu nhập luôn bằng hoặc cao hơn vì nhà nước vẫn nhận hạn ngạch ở giá cũ và thị trường chỉ mở ở phần biên. Vì thế những bên đang hưởng lợi từ kế hoạch ít có lí do cản trở, trong khi sản lượng ở phần biên đã chạy theo giá. Hạn ngạch chỉ quyết định ai được bao nhiêu; giá biên mới quyết định làm bao nhiêu.
Khi nào hai tầng vỡ
Thứ nhất, hạn ngạch vượt mức đáng làm (nhấn "Hạn ngạch quá cao"): xí nghiệp bị ép làm quá mức, phần dư bị lỗ, giá hai tầng chẳng khác kế hoạch thuần. Thứ hai, chênh lệch giữa hai giá có thể sinh ra buôn bán chênh lệch giá và tham nhũng. Thứ ba, hai tầng chỉ là bước đệm: muốn một thị trường thống nhất vẫn phải bỏ dần hạn ngạch, như Trung Quốc đi đến mục tiêu năm 1992.
Hạn ngạch 100, giá kế hoạch 50, giá thị trường 80. Vì sao giá hai tầng không làm sản lượng tăng so với kế hoạch thuần?
Gợi ý 1 · Mức đáng làm
Với giá thị trường 80, xí nghiệp chỉ muốn làm 80 trừ 20, tức 60 đơn vị. Làm đơn vị thứ 61 trở đi tốn nhiều hơn 80.
Gợi ý 2 · Hạn ngạch ép
Hạn ngạch là 100, lớn hơn 60. Xí nghiệp vẫn phải giao đủ 100 theo giá 50, nên không còn phần nào để bán ngoài kế hoạch; đoạn từ 61 đến 100 là phần làm lỗ (vùng đỏ đậm).
Kết luận
Khi hạn ngạch vượt mức thị trường đáng làm, chính hạn ngạch ấn định sản lượng nên giá hai tầng giống hệt kế hoạch thuần (thu nhập cùng bằng âm 2000). Muốn có tác dụng, phải hạ hạn ngạch xuống không quá 60.