Bỏ qua đến nội dung chính

LỊCH SỬ 12 · TRẬT TỰ THẾ GIỚI SAU CHIẾN TRANH LẠNH — Bốn xu thế, một sợi chỉ: toàn cầu hóa, đa cực, hợp tác và cạnh tranh

Bài khái niệm Lịch sử 12 (Bài 3): vì sao hết trục đối đầu hai khối thì cạnh tranh chuyển sang sức mạnh tổng hợp, toàn cầu hóa là gì và vì sao xuất hiện…

Cập nhật: 2026-10-12

Môn: Lịch sử · Ôn thi tốt nghiệp THPT 2027

LỊCH SỬ 12 · THẾ GIỚI SAU CHIẾN TRANH LẠNH · TRẬT TỰ THẾ GIỚI · LUKATO AI · BÀI KHÁI NIỆM

Hết trục đối đầu hai khối: bốn xu thế, một sợi chỉ

Toàn cầu hóa là gì và vì sao nó xuất hiện? “Cực” được xác định bằng gì? Vì sao đối thoại, hợp tác và cạnh tranh cùng tồn tại?

Bài này không giải đề và không điểm lại từng biến cố. Nó dựng hệ thống khái niệm cho Bài 3: khi trục đối đầu hai khối biến mất, cạnh tranh chuyển sang sức mạnh tổng hợp mà nền là kinh tế; khoa học – công nghệ làm chi phí trao đổi giảm nên các nước gắn kết dày hơn (toàn cầu hóa); sức mạnh không còn dồn về hai cực nên có nhiều trung tâm (đa cực); và vì vừa phụ thuộc vừa cạnh tranh, đối thoại – hợp tác đi cùng cạnh tranh chứ không thay thế nó. Các mốc lịch sử được đối chiếu với tài liệu tham khảo (xem chân trang); mô hình và số liệu trong sơ đồ và phòng thí nghiệm là ví dụ tự soạn.

6 SƠ ĐỒ TỰ DỰNG 2 PHÒNG THÍ NGHIỆM THUẦN KHÁI NIỆM 8 CÂU TRẮC NGHIỆM TỰ SOẠN

Về nguồn và ví dụ. Hội nghị Malta (2–3/12/1989) được đối chiếu với Wikipedia và World History Commons; ngày 25/12/1991 với Văn phòng Sử gia Bộ Ngoại giao Mỹ (history.state.gov) và Wikipedia; Hiệp ước Maastricht với Britannica và Ngân hàng Trung ương châu Âu; G20 với trang chính thức g20.org.tr và Wikipedia; ASEM với Bộ Ngoại giao Thụy Sĩ và Wikipedia; định nghĩa toàn cầu hóa kinh tế với IMF (2000) và Britannica; phạm vi bài học với VietJack. Mọi số liệu về sức mạnh quốc gia và mạng liên kết trong bài đều là mô hình tự soạn hư cấu , không phải số liệu thật của nước nào.

MỤC 1 · ĐIỂM GÃY VÀ SỢI CHỈ

Trật tự thế giới là cách chia sức mạnh và luật chơi; khi trục tổ chức biến mất, cả hệ phải tìm trục mới

Trật tự thế giới không phải một văn bản. Nó là một cái khuôn: ai nắm loại sức mạnh nào, các chủ thể cạnh tranh và hợp tác với nhau theo luật gì. Trật tự hai cực Ianta có một trục tổ chức rõ ràng là đối đầu giữa hai khối; mọi nước, mọi cuộc khủng hoảng đều được đọc qua trục ấy. Khi trục mất, câu hỏi đổi từ “đứng về khối nào” sang “mạnh ở đâu và gắn với ai”.

1.1 Hai mốc và một cách đọc

Ngày 2–3/12/1989, tổng thống Mỹ George H. W. Bush và lãnh đạo Liên Xô Mikhail Gorbachev gặp nhau trên tàu ngoài khơi Malta; Gorbachev nói thế giới đang rời một kỉ nguyên và bước vào kỉ nguyên khác. Một số người tham gia và sử gia coi đó là mốc kết thúc Chiến tranh lạnh, dù việc “kết thúc” đến mức nào còn được bàn cãi (Wikipedia; World History Commons). Đầu tháng 12/1991, lãnh đạo Nga, Belarus và Ukraine họp để lập Cộng đồng các quốc gia độc lập; ngày 25/12/1991 Gorbachev từ chức và cờ Liên Xô hạ xuống lần cuối ở Kremlin (history.state.gov; Wikipedia). Hai mốc trả lời câu “khi nào”; bài này hỏi câu khác: vì sao thế giới sau những mốc ấy vận hành khác.

Vuốt ngang để xem hết sơ đồ

Hình 1. Từ điểm gãy hai cực đến bốn xu thế: trục đối đầu mất đi, cạnh tranh chuyển sang sức mạnh tổng hợp, và bốn xu thế móc vào nhau.

Phân biệt mốc và cơ chế. Mốc (Malta 1989, cuối 1991) là điểm trên trục thời gian. Cơ chế là cái khiến thế giới sau mốc khác thế giới trước mốc: trục đối đầu hai khối biến mất, sức mạnh tổng hợp thành thước đo, và từ đó sinh ra bốn xu thế. Chỉ nhớ năm mà không nối cơ chế thì mới nhớ được một nửa.

1.2 Bốn xu thế của chương trình dưới một sợi chỉ

Chương trình nêu bốn xu thế: đa cực, lấy kinh tế làm trọng tâm, đối thoại và hợp tác, toàn cầu hóa (VietJack). Học riêng từng xu thế, ta có bốn danh sách. Nối chúng bằng một sợi chỉ, ta có một chuỗi: hết trục đối đầu, sức mạnh tổng hợp thành thước đo và kinh tế là nền của nó (mục 2); khoa học – công nghệ làm chi phí trao đổi giảm nên các nước gắn kết dày hơn (mục 3); sức mạnh trải ra nhiều trung tâm (mục 4); phụ thuộc lẫn nhau khiến đối thoại, hợp tác đi cùng cạnh tranh (mục 5); và các cơ chế cụ thể hóa điều đó (mục 6).

nói “Chiến tranh lạnh kết thúc” có đồng nghĩa với “thế giới hết cạnh tranh” không?

Giải thích. Không. Cái mất đi là trục tổ chức của cả hệ: đối đầu giữa hai khối. Cạnh tranh không biến mất mà đổi chỗ, từ đối đầu quân sự – ý thức hệ sang kinh tế, công nghệ và ảnh hưởng. Vì vậy sau mốc ấy vừa có xu thế đối thoại, hợp tác vừa có cạnh tranh, và mục 5 sẽ chỉ ra chúng cùng tồn tại theo từng lĩnh vực.

MỤC 2 · KINH TẾ LÀM TRỌNG TÂM

Sức mạnh tổng hợp có nhiều thành phần, nhưng kinh tế là nền của các thành phần còn lại

Khi nguy cơ đối đầu trực tiếp giữa hai khối giảm, thước đo thành công của một quốc gia dịch dần từ quy mô lực lượng sang khả năng tạo ra của cải và giữ vững phát triển. Chương trình mô tả: hầu hết các nước điều chỉnh chiến lược phát triển, tập trung vào kinh tế, nhằm tăng sức mạnh quốc gia và cải thiện đời sống nhân dân (VietJack).

2.1 Sức mạnh tổng hợp là gì

Sức mạnh tổng hợp là tổ hợp nhiều thành phần: kinh tế, quân sự, khoa học – công nghệ, chính trị – đối ngoại, cùng nguồn lực như dân số, tài nguyên, văn hóa. Chữ “tổng hợp” nghĩa là không thành phần nào đứng một mình. Lực lượng mạnh mà kinh tế yếu thì khó duy trì lâu; kinh tế mạnh mà thiếu công nghệ thì khó giữ vị thế. Kinh tế được đặt làm trọng tâm vì nó vừa là mục tiêu (đời sống nhân dân) vừa là nguồn lực nuôi các thành phần khác (ngân sách, nghiên cứu, ảnh hưởng).

MỤC TIÊU đời sống nhân dân

NGUỒN LỰC nuôi quân sự, KH-CN, đối ngoại

THƯỚC ĐO MỚI sức mạnh tổng hợp

2.2 Trọng tâm không phải là duy nhất

Đặt kinh tế làm trọng tâm không có nghĩa bỏ an ninh. Đó là thứ tự ưu tiên khi phân bổ nguồn lực: một nước vẫn giữ quốc phòng, nhưng coi tăng trưởng và hội nhập là con đường chính để mạnh lên. Hệ quả cho cả bài: ở mục 4, Phòng A cho thấy chọn thành phần nào để đo “mạnh” sẽ đổi cả bức tranh về các cực; còn ở mục 3, chính kinh tế là thứ được toàn cầu hóa trước tiên.

Xu thế 1 trả lời câu hỏi: sau Chiến tranh lạnh, sức mạnh được đo bằng gì? Bằng sức mạnh tổng hợp, và nền của nó là kinh tế.

MỤC 3 · TOÀN CẦU HÓA

Toàn cầu hóa là kết quả của chi phí trao đổi giảm, không phải một chính sách do ai ban hành

Khái niệm: toàn cầu hóa là quá trình các quốc gia, dân tộc và khu vực ngày càng gắn kết, phụ thuộc và tác động lẫn nhau trên phạm vi thế giới (VietJack). IMF mô tả toàn cầu hóa kinh tế là một quá trình lịch sử, kết quả của đổi mới và tiến bộ công nghệ, nói về sự hội nhập ngày càng sâu của các nền kinh tế, nhất là qua thương mại và dòng tài chính, đôi khi gồm cả sự di chuyển của con người và tri thức qua biên giới (IMF 2000; Britannica).

3.1 Vì sao nó xuất hiện: một chuỗi nhân quả

Hãy đọc toàn cầu hóa như một chuỗi chứ không phải một sự kiện. Cách mạng khoa học – công nghệ làm vận tải và truyền thông nhanh hơn, rẻ hơn. Nhờ đó chi phí để hai nước trao đổi giảm, và nhiều giao dịch từng không đáng làm nay có lãi. Hàng hóa, vốn, con người và tri thức vì vậy chạy qua biên giới nhiều hơn, dày hơn. Liên kết dày tạo ra đúng điều khái niệm mô tả: gắn kết, phụ thuộc và tác động lẫn nhau. Chương trình còn nêu thêm điều kiện chính trị: kết thúc đối đầu hai khối cùng với cách mạng khoa học – công nghệ đã thúc đẩy toàn cầu hóa mạnh hơn (VietJack).

Vuốt ngang để xem hết sơ đồ

Hình 2. Chuỗi nhân quả của toàn cầu hóa: từ công nghệ, qua chi phí trao đổi, đến phụ thuộc lẫn nhau và hai mặt lợi ích – rủi ro.

3.2 Khái niệm gắn với mức độ, không phải “có” hoặc “không”

Toàn cầu hóa là một quá trình có mức độ: càng nhiều cặp nước có liên kết và liên kết càng sâu thì mức độ càng cao. Vì thế câu hỏi đúng không phải “đã toàn cầu hóa chưa” mà là “chi phí nào đang giữ cho các liên kết chưa xuất hiện”. Phòng B ở mục 5 cho phép kéo chi phí xuống và nhìn mạng liên kết hình thành từng cặp một: cặp có lợi ích lớn nhất xuất hiện trước, cặp có lợi ích nhỏ nhất xuất hiện sau cùng.

3.3 Hai mặt của phụ thuộc lẫn nhau

Liên kết dày cho cơ hội: thị trường rộng hơn, công nghệ lan nhanh hơn. Nhưng nó cũng là kênh để rủi ro lan đi. Dấu vết của điều này nằm ngay trong lịch sử các cơ chế hợp tác: G20 được lập năm 1999 sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, và thượng đỉnh cấp lãnh đạo đầu tiên của G20 năm 2008 diễn ra sau khủng hoảng tài chính toàn cầu (g20.org.tr; Wikipedia). Suy luận của bài: khi khủng hoảng ở một nơi dễ trở thành khủng hoảng của nhiều nơi, các nước có thêm lí do ngồi lại với nhau.

Tóm lại mục 3. Toàn cầu hóa là một quá trình (không phải trạng thái) do công nghệ và bớt rào cản đẩy tới; biểu hiện là gắn kết, phụ thuộc, tác động lẫn nhau; hệ quả có cả cơ hội và rủi ro.

nếu chi phí vận tải và thông tin tăng gấp đôi, mạng liên kết giữa các nước thay đổi thế nào?

Giải thích. Một liên kết chỉ tồn tại khi lợi ích lớn hơn chi phí. Khi chi phí tăng, các cặp có lợi ích nhỏ rơi xuống dưới chi phí và ngừng trao đổi trước; cặp có lợi ích lớn còn lại lâu hơn. Mạng vì thế thưa dần theo từng cặp chứ không tắt đột ngột: mức độ toàn cầu hóa giảm, nhưng không phải biến mất.

MỤC 4 · ĐA CỰC

“Cực” không có sẵn trong tự nhiên: nó là kết quả của việc chọn đo gì và đặt ngưỡng ở đâu

Chương trình mô tả xu thế đa cực là trật tự thế giới có nhiều cực, nhiều trung tâm trong quan hệ quốc tế (VietJack). Nhưng một “cực” nghĩa là gì? Có thể hiểu: một trung tâm có sức mạnh đủ lớn để làm đổi cách các nước khác hành xử. Chữ “đủ lớn” kéo theo hai lựa chọn của người phân tích: đo sức mạnh bằng thành phần nào, và đặt ngưỡng ở đâu.

4.1 Ba hình học của quyền lực

Hai cực: hai trung tâm vượt trội, các nước còn lại xếp quanh hai trung tâm ấy. Một cực: một trung tâm vượt trội. Nhiều cực: sức mạnh trải ra nhiều trung tâm, không trung tâm nào đủ để ra luật một mình. Hình 3 chỉ minh họa hình học này; nó không phải số liệu của nước nào.

Vuốt ngang để xem hết sơ đồ

Hình 3. Hai cực, một cực và nhiều cực: cùng sáu “nước”, nhưng sức mạnh dồn vào khác nhau.

4.2 Không ai dẫn đầu mọi thành phần

Hình 4 dùng số tự soạn hư cấu cho sáu quốc gia A–F theo bốn thành phần: kinh tế, quân sự, khoa học – công nghệ, ảnh hưởng chính trị. A dẫn đầu ba thành phần nhưng B dẫn đầu khoa học – công nghệ; C đứng thứ ba ở ba thành phần và thứ hai ở ảnh hưởng chính trị. Khi các thành phần không cùng một nước dẫn đầu, việc gọi tên “cực” phụ thuộc vào cách cộng các thành phần lại.

Vuốt ngang để xem hết sơ đồ

Hình 4. Tỉ trọng sức mạnh của sáu quốc gia hư cấu theo bốn thành phần; đường nét đứt là một ngưỡng ví dụ 15%.

PHÒNG A Đếm cực: cùng một bộ số liệu, đổi cách đo thì đổi số cực

Dùng đúng bộ số của Hình 4 hư cấu . Chọn trọng số cho từng thành phần (cách đo) và ngưỡng để một nước được gọi là “cực”. Chương trình nói thế giới có nhiều cực; ở đây ta xem chính việc đếm cực phụ thuộc vào những gì. Chỉ số tập trung 1 ÷ Σ(tỉ trọng²) là thước đo liên tục của bài này, không phải định nghĩa của chương trình.

Cách đo mẫu

Trọng số kinh tế 25

Trọng số quân sự 25

Trọng số KH-CN 25

Trọng số ảnh hưởng chính trị 25

Ngưỡng để thành cực (% sức mạnh tổng hợp) 15

Điều rút ra. Muốn nói “có bao nhiêu cực”, phải nói kèm hai điều: đo bằng thành phần nào, ngưỡng bao nhiêu. Hai người đếm ra hai con số khác nhau chưa chắc có người sai; họ có thể đang dùng hai cái thước. Đa cực cũng không đòi các cực bằng nhau: cực chỉ cần đủ lớn để không bị bỏ qua.

với bộ số mặc định của Phòng A (cân bằng bốn thành phần), hạ ngưỡng từ 15% xuống 10% thì số cực tăng hay giảm?

Giải thích. Tăng. Sức mạnh tổng hợp mặc định gồm A khoảng 34,3%, B 22,5%, C 17,5%, D 12,0%, E 8,0%, F 5,8%. Ngưỡng 15% chỉ có A, B, C vượt (ba cực); hạ xuống 10% thì D (12%) cũng vượt nên thành bốn cực. Hạ ngưỡng không làm ai mạnh thêm, chỉ làm định nghĩa “đủ lớn” rộng ra: số cực là kết quả của cách định nghĩa.

MỤC 5 · ĐỐI THOẠI, HỢP TÁC VÀ CẠNH TRANH

Hợp tác và cạnh tranh cùng tồn tại vì cùng một sợi dây: phụ thuộc lẫn nhau

Chương trình mô tả xu thế đối thoại, hợp tác: quan hệ giữa các nước chuyển theo hướng hòa hoãn, đa dạng hóa và đa phương hóa đối thoại, hướng tới quan hệ hợp tác ổn định, lâu dài (VietJack). Nhưng thế giới đa cực với kinh tế làm trọng tâm vẫn đầy cạnh tranh. Hai điều ấy chỉ mâu thuẫn khi ta nhìn quan hệ giữa hai nước như một công tắc bật hoặc tắt; đọc theo từng lĩnh vực thì chúng khớp nhau.

5.1 Hai lực, không phải một công tắc

Mỗi cặp nước chịu hai lực cùng lúc: lợi ích chung từ liên kết (thị trường, công nghệ, ổn định) và xung đột lợi ích (vị thế, an ninh, tiêu chuẩn công nghệ). Hai lực không triệt tiêu nhau mà cùng tồn tại, vì chúng nằm ở các lĩnh vực khác nhau và ở các mức khác nhau. Hình 5 vẽ một cặp nước hư cấu: hợp tác mạnh về thương mại, tài chính, khí hậu nhưng cạnh tranh mạnh về công nghệ và an ninh.

Ôn thi THPT 2027 cùng LUKATO AI — đề thi thử, gia sư AI 24/7, giải Toán bằng ảnh.
Bắt đầu miễn phí

Xem thêm