🏯 Lịch sử THCS · Canh tân và kháng chiến · Ngoại xâm chỉ đặt câu hỏi, nội lực mới trả lời: cầm lái, nền đỡ và nước đi quyết định canh tân Minh Trị bám hay trượt, vì sao Nguyễn Huệ khóa được cả đội tàu ở Rạch Gầm – Xoài Mút bằng nơi chọn đánh và lúc chọn đánh, và vì sao sáu tỉnh Nam Kỳ mất trên thực địa trước khi mất trên văn bản
Chuyên đề hệ thống ba câu chuyện thường được học rời rạc, Nhật Bản duy tân thời Minh Trị, trận Rạch Gầm – Xoài Mút của Nguyễn Huệ và cuộc kháng chiến chống…
LUKATO AI · LỊCH SỬ · CANH TÂN VÀ KHÁNG CHIẾN
Lịch sử · Duy tân Minh Trị · Rạch Gầm – Xoài Mút · Kháng chiến chống Pháp 1858 – 1884
Ngoại xâm chỉ đặt câu hỏi, nội lực mới trả lời : cầm lái, nền đỡ và nước đi quyết định một dân tộc canh tân thành công, thắng một trận quyết định hay đánh mất độc lập
Ba câu chuyện thường bị học rời rạc: Nhật Bản duy tân thời Minh Trị, Nguyễn Huệ đánh quân Xiêm ở Rạch Gầm – Xoài Mút, và hai mươi sáu năm từ tiếng súng ở Đà Nẵng (1858) đến hiệp ước bảo hộ (1884). Chuyên đề này gom chúng về một câu hỏi: khi ngoại xâm kéo đến, cái gì quyết định kết cục? Áp lực từ bên ngoài giống nhau mà kết cục có thể khác hẳn, nên áp lực không phải là lời giải; nó chỉ đặt câu hỏi, và lời giải nằm ở nội lực với ba trụ. Cầm lái : ai quyết định, dám tự đổi mình tới đâu. Nền đỡ : nền kinh tế, xã hội và sự ủng hộ của nhân dân có chịu nổi cuộc cải cách hay cuộc kháng chiến hay không. Nước đi : làm việc gì trước việc gì sau, đánh ở đâu và đánh lúc nào. Ba mô hình minh họa do bài tự đặt cho bạn tự thử: điều kiện để canh tân bám hay trượt, hình học của một trận khóa cả đội tàu, và hai cuốn sổ thực địa và văn bản chạy lệch nhau suốt nhiều năm.
Cùng áp lực, kết quả khác hẳn Trong mô hình canh tân: cầm lái 3, nền đỡ 3, đúng thứ tự thì 5 trên 5 lĩnh vực bám; cầm lái 1 chỉ còn 0; làm kinh tế trước chính trị còn 2; áp lực tối đa mà nền đỡ vẫn mỏng cũng chỉ được 1
Thắng ở đâu còn phải thắng lúc nào Đội 8 tàu cách nhau 2 đơn vị, dài 14, qua đoạn sông dài 20: lệnh phát trong khoảng 14 đến 20 khóa cả 8 tàu; phát ở mốc 8 chỉ khóa 5, ở mốc 26 cũng chỉ 5; vùng ngắn hơn đội hình thì không bao giờ khóa hết (đội dài 21, vùng 12: tối đa 5)
Hai cuốn sổ chạy lệch nhau Sáu tỉnh Nam Kỳ mất hết trên thực địa năm 1867, văn bản chỉ ghi năm 1874: chậm 7 năm; bốn mốc có thắng lợi lớn (1858, 1861, 1873, 1883) đều được văn bản nhượng thêm bậc sau trung bình 1,5 năm
01
Khái niệm lõi
Từ ba ván cờ khác nhau đến một khung chung: cầm lái, nền đỡ, nước đi
Nhật Bản và Việt Nam gặp cùng một loại áp lực trong nửa sau thế kỷ XIX. Năm 1853 hạm đội Mỹ của Perry đến vịnh Edo; năm 1854 Nhật Bản ký hiệp ước Kanagawa, rồi đến năm 1858 là các hiệp ước bất bình đẳng. Cũng năm 1858, quân Pháp cùng Tây Ban Nha nổ súng ở Đà Nẵng. Sau đó Nhật Bản khôi phục quyền lực của Thiên hoàng năm 1868 và tự cải tạo mình từ trên xuống; còn Việt Nam, dù đã có những đề nghị canh tân như các điều trần của Nguyễn Trường Tộ nhưng chúng không được thực hiện, phải ký hiệp ước bảo hộ năm 1884 sau hai mươi sáu năm vừa đánh vừa đàm. Áp lực giống nhau mà kết cục khác nhau, nên áp lực ngoại xâm chỉ đặt câu hỏi; nội lực mới trả lời . Giữa hai chuyện ấy còn một ván cờ nhỏ hơn: tháng 1 năm 1785 ở khúc sông Rạch Gầm – Xoài Mút, Nguyễn Huệ chọn đúng nơi và đúng lúc để đánh tan đạo quân Xiêm do Nguyễn Ánh mời sang. Ba ván cờ dùng chung một khung với ba trụ.
1 · Áp lực Ngoại xâm đặt câu hỏi: hạm đội Mỹ 1853, thuyền Xiêm 1785, tàu Pháp 1858
2 · Cầm lái Ai quyết định, và dám tự đổi mình, kể cả bỏ đặc quyền của chính mình, tới đâu
3 · Nền đỡ Kinh tế, xã hội và lòng dân có chịu nổi cải cách hay kháng chiến không
4 · Nước đi Việc nào trước việc nào sau; đánh ở đâu, đánh lúc nào
5 · Kết cục Canh tân bám hay trượt; thắng quyết định hay thua; giữ hay mất độc lập
Để thấy cơ chế, bài dựng ba mô hình minh họa do bài tự đặt; chúng không phải số đo lịch sử mà chỉ làm lộ các đánh đổi. Mô hình thứ nhất là canh tân. Có năm lĩnh vực: chính trị, kinh tế, xã hội, giáo dục, quân sự. Mỗi lĩnh vực i đòi một mức cầm lái t và một mức nền đỡ r, và có quan hệ tiên quyết (kinh tế và xã hội cần chính trị làm trước, giáo dục cần kinh tế, quân sự cần cả kinh tế lẫn xã hội). Áp lực K chỉ có thể kéo cầm lái đi xa hơn, chứ không chạm được vào nền đỡ B. Một lĩnh vực bám khi cả ba điều kiện cùng đúng: cầm lái hiệu dụng T h (bằng T cộng k, tối đa 4, với k là phần áp lực vượt mức 1) không thấp hơn mức cần, nền đỡ không thấp hơn mức cần, và mọi lĩnh vực tiên quyết đã được làm trước và bám. Nếu thiếu thì tính lí do theo thứ tự cầm lái, nền đỡ, tiên quyết:
\begin{gathered}k=\max(0,K-1)\\ T_{h}=\min(4,T+k)\\ T_{h}\ge t_{i}\\ B\ge r_{i}\end{gathered}
Mô hình thứ hai là một trận khóa cả đội tàu trên khúc sông hẹp. Đội n tàu đi nối đuôi, hai tàu liền nhau cách s; tàu đầu ở vị trí τ thì tàu thứ j ở τ − js. Đoạn sông từ 0 đến R là vùng chết: tàu nào đang nằm trong đó vào lúc phát lệnh thì bị khóa. Gọi a là phần nguyên của τ/s, b là phần làm tròn lên của (τ − R)/s, m là phần nguyên của R/s; h là số thứ tự tàu cuối cùng trong vùng, ℓ là số thứ tự tàu đầu tiên trong vùng (tàu đầu hàng là tàu số 0). Số tàu bị khóa là N, mức cao nhất là N tối đa, và khóa được cả đội khi đội hình dài (n − 1)s không vượt quá R, với thời điểm nằm trong một cửa sổ:
\begin{gathered}x_{j}=\tau-js\\ 0\le x_{j}\le R\\ a=\left\lfloor\tfrac{\tau}{s}\right\rfloor\\ b=\left\lceil\tfrac{\tau-R}{s}\right\rceil\\ h=\min(n-1,a)\\ \ell=\max(0,b)\\ N=h-\ell+1\\ m=\left\lfloor\tfrac{R}{s}\right\rfloor\\ N_{\max}=\min(n,m+1)\\ (n-1)s\le\tau\le R\end{gathered}
Mô hình thứ ba là hai cuốn sổ. Sổ thực địa ghi số tỉnh Nam Kỳ do Pháp thực sự chiếm giữ ở mốc m, kí hiệu F. Sổ văn bản ghi số tỉnh triều đình đã ký nhượng, kí hiệu P, cùng sáu bậc chủ quyền đã ký. Chênh lệch g cho biết bao nhiêu tỉnh đã mất mà chưa ký; còn độ chậm Δ của văn bản so với thực địa tại ngưỡng q tỉnh là hiệu hai năm: Y P là năm văn bản đạt q tỉnh, trừ Y F là năm thực địa đạt q tỉnh:
\begin{gathered}g_{m}=F_{m}-P_{m}\\ \Delta_{q}=Y_{P}-Y_{F}\end{gathered}
Ba nguyên lí cần nhớ (1) Ngoại xâm chỉ đặt câu hỏi, nội lực mới trả lời: cùng áp lực mà Nhật Bản canh tân bám còn Việt Nam không, nên đừng lấy áp lực làm nguyên nhân của kết cục. Áp lực chỉ có thể kéo cầm lái tới một ngưỡng, và không thay được nền đỡ. (2) Cầm lái, nền đỡ và thứ tự là ba điều kiện đồng thời: thiếu một thì lĩnh vực trượt, và trượt ở gốc kéo theo trượt ở ngọn (làm sai thứ tự thì lĩnh vực làm sớm trượt vì tiên quyết). (3) Thắng không chỉ là mạnh mà là chọn đúng nơi và đúng lúc: đội hình dài của địch trở thành điểm yếu khi gặp đoạn hẹp đủ dài và lệnh phát đúng cửa sổ; còn một thắng lợi cục bộ chỉ đổi được kết cục khi nó được chuyển thành nước đi chung, vì mất nước diễn ra qua nhiều tầng, thực địa chạy trước văn bản.
02
Hệ thống khái niệm
Tám khái niệm cần phân biệt
Áp lực ngoại xâm là câu hỏi, không phải câu trả lời Hạm đội Perry năm 1853, tàu chiến Pháp năm 1858 hay đạo quân Xiêm năm 1784 đều là áp lực: chúng buộc một xã hội phải trả lời xem sẽ đổi mình hay đánh trả như thế nào. Nhưng chính áp lực không viết ra lời đáp. Nhật Bản chịu áp lực rồi duy tân; nhiều quốc gia khác chịu áp lực tương tự mà không đổi được. Vì vậy khi giải thích một kết cục, câu hỏi đúng là vì sao xã hội ấy trả lời như vậy, tức là phải hỏi về cầm lái, nền đỡ và nước đi, thay vì dừng ở «bị ép nên phải đổi».
Cầm lái là mức tự đổi mình của người nắm quyền Cầm lái không chỉ là có người lãnh đạo mà là người lãnh đạo dám đổi tới đâu: chỉ đổi cái bề ngoài, đổi kinh tế và quân sự, hay đổi cả đặc quyền của chính tầng lớp mình. Ở Nhật Bản, những người đứng đầu công cuộc duy tân phần lớn xuất thân từ tầng lớp samurai của các phiên Satsuma và Chōshū (liên minh năm 1866); năm 1871 họ bãi bỏ các phiên, rồi quy đổi và đến năm 1876 bắt buộc chuyển lương bổng của samurai sang trái phiếu. Đó là tầng lớp cầm quyền tự cắt đặc quyền của mình, và là mức cầm lái cao nhất trong mô hình của bài.
Nền đỡ là cái chịu cải cách và chịu kháng chiến Nền đỡ là điều kiện kinh tế, xã hội và lòng dân khiến một chính sách đi từ văn bản xuống đời sống được. Cùng một đạo luật về thuế đất hay nghĩa vụ quân dịch, nơi có kinh tế hàng hóa, hệ thống học vấn và bộ máy hành chính đã quen việc sẽ chạy được; nơi thiếu những thứ ấy thì chỉ còn trên giấy. Với kháng chiến, nền đỡ là sự ủng hộ và tự nguyện chiến đấu của nhân dân tại chỗ. Trong mô hình, áp lực ngoại xâm không bao giờ tăng được nền đỡ, nên có cầm lái quyết tâm mà nền đỡ mỏng vẫn chỉ cải cách được rất ít.
Thứ tự cải cách và quan hệ tiên quyết Cải cách không phải danh sách việc phải làm mà là một đồ thị: việc này cần việc kia làm trước. Ở Nhật Bản, tập quyền chính trị đi trước: bãi bỏ phiên (8-1871) biến 302 phiên thành 72 tỉnh vào đầu năm 1872, rồi mới có cải cách thuế đất và chế độ quân dịch bắt buộc (cùng năm 1873, nghĩa vụ 4 năm từ 21 tuổi), kèm hệ thống giáo dục mới và đến năm 1889 là Hiến pháp. Làm quân sự trước khi có tiền thuế và chế độ nghĩa vụ, hay làm kinh tế trước khi có quyền lực thống nhất, là làm sai thứ tự: lĩnh vực nào làm sớm sẽ trượt vì chưa có tiên quyết.
Nơi chọn đánh: địa hình biến đội hình dài thành điểm yếu Một đội tàu đi nối đuôi trên sông hẹp chỉ có thể bị chặn ở hai đầu: khi mũi tàu đầu tới một đầu khúc sông thì đuôi vẫn đang ở trong khúc, và chính chiều dài đội hình khiến cả đội mắc vào cùng một vùng. Nguyễn Huệ chọn đoạn sông giữa Rạch Gầm và Xoài Mút trên sông Tiền (vùng Mỹ Tho) làm vùng chết; đội hình càng dài thì khúc sông phải càng dài, nhưng khi vừa đủ dài thì cả đội bị khóa cùng lúc. Nơi chọn đánh là một quyết định về hình học: so chiều dài đội hình với chiều dài vùng chết.
Lúc chọn đánh: cửa sổ thời gian Cùng một vùng chết, cùng một đội địch, phát lệnh sớm hay muộn cho kết quả rất khác: sớm thì đuôi chưa vào, muộn thì đầu đã ra. Trận Rạch Gầm – Xoài Mút diễn ra vào tháng 1 năm 1785 (sách giáo khoa ghi ngày 19, một số tài liệu ghi 20); quân Tây Sơn dùng nghi binh, kể cả cho người đến đàm phán để làm địch chủ quan, rồi mai phục phối hợp thủy bộ và dùng hỏa lực, chặn cả đầu lẫn đuôi khi đội tàu đã vào khúc sông. Sau trận ấy Nguyễn Ánh phải chạy sang Xiêm. Bốn năm sau Quang Trung đánh quân Thanh vào dịp Tết Kỷ Dậu (1789), một lần nữa chọn lúc địch chủ quan nhất.
Hai cuốn sổ: mất nước diễn ra qua nhiều tầng Mất độc lập không là một ngày. Trước hết là thực địa: quân xâm lược chiếm đất. Sau đó là văn bản: một hiệp ước ghi lại, thường chậm hơn nhiều. Cuối cùng là các bậc chủ quyền: ngoại giao, bộ máy hành chính, thuế quan lần lượt rơi vào tay kẻ xâm lược. Hiệp ước Nhâm Tuất (5-6-1862) ghi ba tỉnh miền Đông và đảo Côn Lôn; ba tỉnh miền Tây mất trên thực địa tháng 6 năm 1867 mà không tốn một viên đạn, nhưng đến Hiệp ước Giáp Tuất (15-3-1874) văn bản mới công nhận sáu tỉnh Nam Kỳ là của Pháp. Hiệp ước Hác-măng (25-8-1883) và Pa-tơ-nốt (6-6-1884) hoàn tất chế độ bảo hộ.
Hai mặt trận: nhân dân và triều đình Trong cùng một cuộc xâm lược có hai nhịp chạy khác nhau. Nhân dân kháng chiến tại chỗ và có thắng lợi lớn: Nguyễn Trung Trực đốt tàu Ét-pê-răng ở Nhật Tảo (10-12-1861); Trương Định không tuân lệnh bãi binh của triều đình và tiếp tục chiến đấu cho đến khi hy sinh năm 1864; quân ta thắng ở Cầu Giấy hai lần (21-12-1873 và 19-5-1883). Triều đình thì ưu tiên thương lượng và ký các hiệp ước. Phía Pháp cũng có nước đi: kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh ở Đà Nẵng bị chặn lại, nên họ đổi hướng vào Gia Định (2-1859), vùng giàu lúa gạo ở phía Nam. Thắng lợi cục bộ chỉ đổi được kết cục khi nó được chuyển thành đường lối chung.
03
Phòng thực hành A
Canh tân bám hay trượt: cầm lái, nền đỡ, áp lực và thứ tự
Phòng dựng một cuộc canh tân do bài tự đặt, không phải số đo lịch sử. Bốn thanh trượt chọn cầm lái T (0 đến 4), nền đỡ B (0 đến 4), thứ tự cải cách (4 phương án) và áp lực ngoại xâm K (0 đến 3). Sáu nút đặt sẵn các tình huống tiêu biểu. Hình trên là sơ đồ năm lĩnh vực, số trong vòng tròn là thứ tự làm, màu viền cho biết bám hay trượt vì lí do gì (cầm lái, nền đỡ hoặc tiên quyết). Hình dưới là hai cột cho mỗi lĩnh vực: mức cầm lái cần và mức nền đỡ cần, so với hai đường mức đang có. Tám ô thông tin và bảng kiểm tra bên dưới cho cùng một kết quả bằng hai cách tính khác nhau.
Đoán trước khi chọn Mặc định: cầm lái T = 3, nền đỡ B = 3, thứ tự 1 (chính trị, kinh tế, xã hội, giáo dục, quân sự) và áp lực K = 2. (1) Cầm lái hiệu dụng là bao nhiêu, và bao nhiêu lĩnh vực bám? (2) Hạ T xuống 1, giữ nguyên còn lại: bao nhiêu bám, và lĩnh vực nào trượt vì lí do gì? (3) Giữ T = 1 rồi tăng K lên 3: kết quả thế nào? (4) Hạ T xuống 0 và để K = 3: còn bám được không? (5) Đặt T = 4, B = 1, K = 0: bao nhiêu lĩnh vực bám, và lĩnh vực nào? (6) Giữ B = 1 và tăng K lên 3: có đổi không? (7) Trở về mặc định rồi chọn thứ tự 2 (quân sự trước): bao nhiêu bám, và vì sao? (8) Chọn thứ tự 4 (kinh tế trước): bao nhiêu bám, và vì sao có tới ba lĩnh vực trượt?