Giáo dục kinh tế và pháp luật 10: Sản xuất kinh doanh và tín dụng, hệ thống khái niệm | LUKATO AI
Bài giảng khái niệm Giáo dục kinh tế và pháp luật 10 về sản xuất kinh doanh và tín dụng: theo hành trình của một khoản vốn qua bốn trạm (huy động, vận hành…
LUKATO AI · GIÁO DỤC KINH TẾ VÀ PHÁP LUẬT 10 · SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ TÍN DỤNG
VỐN VÀO · VẬN HÀNH · ĐO · HOÀN TRẢ
Hành trình của một khoản vốn:
từ lúc huy động,
qua xưởng, đến ngày trả nợ
Mô hình sản xuất kinh doanh, doanh thu, chi phí, lợi nhuận, tín dụng, lãi suất có thể được học như những mục rời nhau. Bài giảng này gợi ý một cách nhìn khác: theo dõi một khoản vốn từ lúc nó được huy động , qua khâu vận hành trong một mô hình sản xuất kinh doanh, đến lúc kết quả được đo bằng doanh thu trừ chi phí, và cuối cùng là lúc vốn vay được hoàn trả . Bốn trạm ấy nối thành một vòng, và ba tín hiệu an toàn giúp em biết khi nào nên dừng lại hỏi thêm. Một số chỗ vượt ra ngoài phần cốt lõi của chương trình có nhãn kiến thức bổ sung; nhân vật và tình huống là hư cấu, các phòng lab dùng số liệu minh họa.
- ① Cuối tháng tiền trong két nhiều hơn đầu tháng, vậy xưởng đã có lãi chưa?
- ② Hộ kinh doanh, hợp tác xã và công ty khác nhau ở những câu hỏi nào, khi cùng làm ra một loại hàng?
- ③ Trước khi ký vào một khoản vay, em cần hỏi những câu nào về chi phí phải trả và về sức trả của chính mình?
4 trạm
huy động, vận hành, đo, hoàn trả, nối thành vòng quay của vốn
11 lab
phân loại, dòng chảy từng bước, ghép đôi, thanh trượt doanh thu và chi phí, tìm lỗi sổ, rẽ nhánh, thanh trượt lãi suất, công tắc điều khoản, thanh trượt kỳ hạn, xếp thứ tự, trò chơi cờ xanh cờ đỏ
14 bẫy
mỗi bẫy có mục, phòng lab và (với nhiều bẫy) cả bài để quay lại luyện
8 bài
6 chọn đáp án, 1 đúng sai, 1 trả lời ngắn
01
Bản đồ chung
Bốn trạm của một khoản vốn, ba tín hiệu an toàn và một lớp nền
Chị Tâm (nhân vật hư cấu) làm đèn lồng giấy ở một xóm nghề. Mùa Trung thu sắp tới, đơn hàng nhiều hơn sức của xưởng. Chị tính: cần thêm giấy, tre, keo và thuê thợ phụ, tổng cộng khoảng 100 triệu đồng tiền vốn cho mùa này, trong khi nhà mới có 40 triệu đồng. Phần còn lại, chị tính vay ngân hàng. Từ đó nảy ra hàng loạt câu hỏi nghe như thuộc về những bài khác nhau. Xưởng của chị thuộc loại mô hình nào? Bán hết lô đèn thì xưởng lãi bao nhiêu? Vay là gì, và vì sao ngân hàng hỏi kĩ đến thế? Lãi suất bao nhiêu thì đáng vay? Nếu đơn hàng chậm thanh toán thì chuyện gì xảy ra với khoản nợ? Bài này gom các câu hỏi ấy thành một dòng chảy liền mạch. Khoản vốn của chị Tâm đi qua bốn trạm : được huy động, được đưa vào vận hành theo một mô hình sản xuất kinh doanh, được đo bằng doanh thu trừ chi phí, và cuối cùng phần vốn vay phải được hoàn trả cả gốc lẫn lãi. Học theo dòng chảy, em sẽ thấy mỗi khái niệm đứng ở một chỗ có lí do, thay vì một danh sách phải thuộc.
Vuốt ngang để xem đầy đủ hình.
Bản đồ chung: bốn trạm nối thành vòng ở hàng trên, ba tín hiệu an toàn ở giữa, lớp nền nghĩa vụ hoàn trả ở dưới. Chọn một khối trên sơ đồ để đọc mô tả ngắn và số mục tương ứng.
Bốn trạm, mỗi trạm một câu hỏi
Mỗi trạm đặt ra một câu hỏi mà người làm kinh tế phải trả lời trước khi sang trạm sau. Trạm huy động hỏi vốn đến từ đâu: do chủ tự có, do nhiều người cùng góp, hay vay của người khác. Trạm vận hành hỏi vốn được dùng theo mô hình tổ chức nào và biến thành hàng hóa ra sao. Trạm đo hỏi sau một kỳ, doanh thu lớn hơn hay nhỏ hơn chi phí, nghĩa là có lợi nhuận hay đang lỗ. Trạm hoàn trả hỏi phần vốn vay phải trả bằng gì, vào lúc nào và với cái giá nào. Cách chia bốn trạm này là cách học của LUKATO, do LUKATO đặt ra cho dễ học; văn bản pháp luật không có sẵn một danh sách như vậy. Các khái niệm bên trong từng trạm (sản xuất kinh doanh, doanh thu, chi phí, lợi nhuận, tín dụng, lãi suất) là kiến thức của chương trình hiện hành.
Trạm
Hỏi gì
Ví dụ ở xưởng đèn lồng (hư cấu)
Mục
① HUY ĐỘNG
Vốn đến từ đâu: tự có, góp hay vay?
Chị Tâm có 40 triệu đồng của nhà và cần thêm vốn cho mùa đèn; phần thiếu có thể huy động từ khoản vay.
2, 5
② VẬN HÀNH
Vốn được dùng theo mô hình nào, thành hàng ra sao?
Xưởng mua giấy, tre, thuê thợ để làm đèn; chị cân nhắc làm theo hộ kinh doanh, góp chung với xóm nghề hay lập công ty.
2, 3
③ ĐO
Doanh thu hơn hay kém chi phí?
Cuối mùa, chị cộng tiền bán đèn, trừ giấy, công thợ, thuê chỗ, lãi vay để biết lãi hay lỗ.
④ HOÀN TRẢ
Trả gốc, lãi bằng gì, vào lúc nào?
Đến ngày hẹn, xưởng phải nộp lại tiền gốc và tiền lãi đã thỏa thuận; nếu biết sẽ chậm thì nói sớm với bên cho vay.
5, 6, 7
TÍN HIỆU AN TOÀN
Khoản vốn có đang đi đúng đường không?
Dùng vốn đúng việc đã nêu, tiền thu đủ để trả, cam kết đọc kĩ trong hợp đồng.
5, 7, 8
LỚP NỀN
Vốn vay mang tính gì?
Là nghĩa vụ phải hoàn trả cả gốc lẫn lãi, khác với tiền của chủ.
cả bài
Cột «Mục» ghi nơi trạm ấy được dùng nhiều nhất trong bài. Trong mỗi vòng quay, khoản vốn đi qua cả bốn trạm, dù một mục có thể nhấn vào một trạm.
Ba tín hiệu an toàn và lớp nền nghĩa vụ
Bên dưới bốn trạm có ba câu hỏi kiểm tra mà em có thể hỏi khi khoản vốn đang đi trên đường. Đúng mục đích : vốn có được dùng đúng việc đã nêu khi xin vay không? Đúng khả năng : tiền thu vào theo thời gian có đủ để trả gốc và lãi đúng hạn không? Đúng hợp đồng : em đã đọc, hiểu lãi, phí, phạt và có giữ đúng cam kết không? Ba tín hiệu ấy là cách gọi của LUKATO, tổng hợp từ nguyên tắc sử dụng vốn vay đúng mục đích và hoàn trả đúng hạn. Dưới cùng là lớp nền : vốn vay là nghĩa vụ. Khác với tiền chủ tự có, khoản vay phải hoàn trả cả gốc lẫn lãi, nên nó vừa có thể giúp mở rộng sản xuất, vừa làm tăng rủi ro nếu kinh doanh không như dự tính.
Vì sao phải đi theo vòng, không dừng ở lợi nhuận
Dễ có cảm giác câu chuyện của một khoản vốn kết thúc khi bán xong hàng và có lãi. Nhìn theo vòng, em thấy còn một trạm nữa: phần vốn vay chưa trả vẫn nằm trong két và vẫn thuộc về người cho vay. Lab 2 cho em đi hết một vòng và quan sát số dư tiền thay đổi thế nào ở từng bước. Chính trạm thứ tư kéo em quay lại hỏi ba tín hiệu an toàn ở trạm thứ nhất của kỳ sau.
Từ điển một dòng: rê chuột hoặc chạm vào từ có nét chấm bên dưới
Thuật ngữ
Nghĩa ngắn
Mục
vốn
Tiền và tài sản dùng để sản xuất, kinh doanh
vốn tự có
Vốn của chủ, không phải hoàn trả như khoản vay
2, 5
vốn vay
Vốn nhận từ người cho vay, phải hoàn trả
2, 5
doanh thu
Tiền thu được nhờ bán hàng, dịch vụ
chi phí
Tiền bỏ ra để sản xuất và bán hàng
lợi nhuận
Doanh thu trừ chi phí, khi kết quả dương
tín dụng
Quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc hoàn trả
gốc
Số tiền vay ban đầu
5, 6
lãi
Tiền trả thêm ngoài gốc
5, 6
lãi suất
Tỉ lệ lãi so với gốc trong một khoảng thời gian
kỳ hạn
Khoảng thời gian từ lúc nhận vốn đến ngày trả
dòng tiền
Tiền thu vào và chi ra theo thời gian
Đoán trước, rồi thử tay
Đoán trước: chị Tâm ký hợp đồng vay và nhận 60 triệu đồng vào tài khoản của xưởng. Trong cách nhìn bốn trạm, khoản tiền vừa nhận ấy được xếp vào loại nào?
60 triệu đồng nhận từ hợp đồng vay được xếp vào loại nào?
Cách dùng phòng lab
Chạm một thẻ rồi chạm vào ô muốn đặt, hoặc kéo thẻ thả vào ô (trên màn hình cảm ứng, hãy kéo bằng chấm nhỏ ở đầu thẻ). Sau khi bấm «Chấm các thẻ đã xếp», thẻ đặt đúng có viền xanh, thẻ đặt sai có viền đỏ, và dòng kết luận nêu lí do cho tối đa ba thẻ sai. Phòng lab này luyện bẫy 1, sẽ gặp lại ở mục 2.
Vận dụng: gọi tên bốn trạm trong câu chuyện của một lò bánh nhỏ
Anh Phong (hư cấu) mở một lò bánh nhỏ, bỏ 30 triệu đồng của mình và vay thêm 20 triệu đồng để mua dụng cụ làm bánh. Sau ba tháng, tiền trong két còn khá nhiều nhưng anh vẫn lo, vì mỗi tháng đến ngày hẹn anh phải nộp một khoản cho bên cho vay. Hãy gọi tên từng trạm trong câu chuyện.
Gợi ý 1 · Trạm ① và ②
Anh Phong có hai nguồn vốn: 30 triệu đồng tự có và 20 triệu đồng vay. Phần thứ hai tạo nghĩa vụ hoàn trả. Vốn được dùng để mua dụng cụ, thuê thợ phụ, và lò bánh hoạt động theo mô hình hộ kinh doanh do anh trực tiếp điều hành.
Gợi ý 2 · Trạm ③ và ④
Tiền trong két gồm tiền thu của khách, vốn của anh và phần vay chưa trả, nên nhìn số dư không cho biết lãi hay lỗ. Muốn biết phải lấy doanh thu trừ chi phí của kỳ. Khoản anh nộp mỗi tháng thuộc trạm hoàn trả, và ba tín hiệu an toàn nhắc anh kiểm tra tiền thu có đủ trả không.
Đáp án · cả bốn trạm
Huy động: 30 triệu đồng tự có và 20 triệu đồng vay. Vận hành: hộ kinh doanh mua dụng cụ, thuê thợ, làm bánh bán cho khách. Đo: lấy tiền bán bánh thu được trừ chi phí nguyên liệu, thợ, thuê chỗ, lãi vay để biết lãi hay lỗ. Hoàn trả: nộp gốc và lãi đúng hạn, báo sớm nếu thấy sẽ chậm. Cái lo của anh Phong nằm ở hai tín hiệu: tiền thu mỗi tháng có đủ khả năng trả không, và hợp đồng đã ghi gì về lãi, phí, phạt.
Chỗ dễ nhầm khi đọc bản đồ
Dễ học bốn trạm như bốn bài rời: mô hình ở một nơi, lợi nhuận ở một nơi, tín dụng ở một nơi. Khi gặp một tình huống thật, các trạm lại dính vào nhau: một khoản vay xuất hiện ở trạm huy động, kéo theo lãi ở trạm đo, rồi nghĩa vụ ở trạm hoàn trả. Hai chỗ nhầm điển hình là coi tiền vay như tiền thu của khách, và coi số dư trong két như lợi nhuận. Bản đồ giúp em đặt đúng nhãn cho từng khoản tiền trước khi tính toán.
Mục 2 đi theo một vòng quay của vốn trong xưởng, bằng một chuỗi từng bước có thể chạy với ba kịch bản bán hàng.
02
Trạm ① và ② · Vốn đi vào xưởng
Sản xuất kinh doanh: vốn đi vào xưởng, hàng đi ra thị trường
Buổi sáng, chị Tâm trải tờ giấy lên bàn và viết ba dòng: «40 của nhà», «60 đi vay», «mua giấy, tre, thuê thợ». Cả mùa đèn lồng của chị bắt đầu từ ba dòng ấy. Sản xuất kinh doanh là hoạt động sử dụng các nguồn lực như vốn, lao động, nguyên liệu, công nghệ để tạo ra hàng hóa, dịch vụ rồi đưa ra thị trường bán, nhằm thu lợi nhuận. Hai nửa của khái niệm đi liền nhau: nửa «sản xuất» tạo ra thứ có giá trị sử dụng, nửa «kinh doanh» biến nó thành tiền bằng việc bán. Thiếu nửa sau, chiếc đèn đẹp mấy cũng nằm trong kho và vốn bỏ ra chưa quay về. Trong bài này, vốn là sợi dây xuyên suốt: nó đi vào xưởng dưới dạng tiền, biến thành giấy, tre và công thợ, trở thành chiếc đèn trên kệ, rồi quay lại thành tiền khi khách trả. Mục này dựng bức tranh vòng quay ấy và đặt cho mỗi dòng tiền một chiếc nhãn đúng.
Ba nguồn vốn: tự có, góp và vay
Vốn của một cơ sở sản xuất kinh doanh có thể đến từ ba nguồn. Điểm khác nhau cần chú ý không phải là tên gọi mà là câu hỏi: tiền này có phải hoàn trả cho người đưa vốn không, và ai gánh rủi ro nếu kinh doanh thua lỗ?
Nguồn vốn
Ai đưa vốn
Có phải hoàn trả như khoản vay không
Ở xưởng chị Tâm
Vốn tự có
Chủ cơ sở
Không phải trả lại cho ai. Chủ hưởng lợi nhuận và cũng gánh rủi ro nếu thua lỗ.
40 triệu đồng tích lũy của gia đình
Vốn góp
Nhiều người cùng góp
Không phải khoản nợ để hoàn trả đúng hạn. Người góp được chia lợi nhuận theo thỏa thuận và cùng chịu rủi ro.
Nếu xưởng mở rộng thành công ty, hai người bạn có thể cùng góp
Vốn vay
Người cho vay (ngân hàng, tổ chức tín dụng, cá nhân)
Phải hoàn trả cả gốc lẫn lãi đúng hạn theo thỏa thuận, kể cả khi kinh doanh không thuận lợi.
60 triệu đồng theo hợp đồng vay
Hai nguồn đầu thuộc về những người đưa vốn và hưởng kết quả kinh doanh; nguồn thứ ba tạo ra một quan hệ nợ, nên mục 5 sẽ học riêng.
Một vòng quay của vốn trong xưởng
Hình dưới theo sát khoản vốn của chị Tâm trong một vòng, với số liệu minh họa tính theo triệu đồng. Tiền từ hai nguồn đổ vào két. Chị chi một phần cho nguyên liệu và một phần cho công thợ; giấy và tre biến thành đèn trên kệ, nên tiền giảm nhưng giá trị hàng tăng. Khi bán, tiền quay lại két và nhiều hơn số đã bỏ ra vì có lợi nhuận. Cuối vòng, xưởng nộp lãi và hoàn trả gốc cho bên cho vay. Phần còn lại là tiền của chủ xưởng và cũng là vốn cho vòng sau.
Vuốt ngang để xem đầy đủ hình.
Một vòng quay của vốn với số liệu minh họa: vốn tự có 40 và vốn vay 60 vào két, chi 40 cho nguyên liệu và 20 cho thợ, bán hàng thu 90, trả lãi 3 và gốc 60. Nét đứt nối két tiền với khoản còn lại để nối sang vòng sau.
Sáu dòng tiền, bốn chiếc nhãn
Trong một vòng quay có sáu loại dòng tiền, và mỗi loại cần được dán đúng nhãn trước khi cộng trừ. Góp vốn tự có mang nhãn vốn . Nhận tiền vay mang nhãn nợ , vì nó làm tiền tăng nhưng tạo nghĩa vụ trả. Bán hàng thu tiền mang nhãn doanh thu . Mua nguyên liệu, trả công thợ và trả tiền lãi mang nhãn chi phí (lãi vay tính vào chi phí là kiến thức bổ sung, sẽ bàn kĩ ở mục 4). Trả tiền gốc làm tiền giảm nhưng cũng làm khoản nợ giảm cùng lượng, nên nó mang nhãn nợ giảm , không phải chi phí. Hai nhãn doanh thu và chi phí mới đi vào phép tính lợi nhuận; ba nhãn còn lại làm tiền trong két thay đổi mà chưa tạo ra lãi hay lỗ.
Vuốt ngang để xem đầy đủ hình.
Ba dòng vào két và ba dòng ra két. Doanh thu và chi phí là hai nhãn dùng để tính lợi nhuận; vốn và nợ cho biết tiền đến từ đâu hoặc đi đâu.