Bỏ qua đến nội dung chính

Giáo dục kinh tế và pháp luật 11: Thị trường lao động và việc làm, hệ thống khái niệm | LUKATO AI

Bài giảng khái niệm, lí thuyết và hướng dẫn về thị trường lao động và việc làm qua hành trình năm trạm của người lao động (tìm việc, kí hợp đồng, làm việc…

Cập nhật: 2026-11-01

Môn: Giáo dục kinh tế và pháp luật · Ôn thi tốt nghiệp THPT 2027

LUKATO AI · GIÁO DỤC KINH TẾ VÀ PHÁP LUẬT 11 · THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG VÀ VIỆC LÀM

TÌM · KÍ · LÀM · GIỮ · LỚN

Hành trình của một người lao động:

năm trạm, hai phía

và một khung chung

Thị trường lao động thường được học như một chồng khái niệm rời: cung, cầu, việc làm, thất nghiệp, hợp đồng, quyền, nghĩa vụ. Bài giảng này gợi ý cách nhìn khác. Hãy theo chân một người lao động qua năm trạm. Ở trạm TÌM cung gặp cầu. Ở trạm KÍ hai bên thỏa thuận bằng hợp đồng. Ở trạm LÀM quyền và nghĩa vụ có hai phía. Ở trạm GIỮ quyền lợi được bảo vệ khi bị đe dọa. Ở trạm LỚN kỹ năng mới đưa người lao động quay lại trạm đầu tiên. Mỗi trạm hỏi cùng ba câu: ai gặp ai, dựa vào đâu, đứt ở đâu. Tình huống trong bài là hư cấu, số liệu trong lab là số liệu minh họa, phần nào ngoài nội dung chương trình đều ghi rõ là kiến thức bổ sung.

  • ① Vì sao một nơi vừa có vị trí đang trống vừa có người cần việc mà hai bên vẫn chưa gặp nhau?
  • ② Hai bên đã đồng ý với nhau thì điều khoản nào cũng có hiệu lực, hay còn một khung bên ngoài?
  • ③ Khi quyền lợi bị đe dọa, việc đầu tiên nên làm là gì và có thể nhờ ai?

5 trạm

tìm, kí, làm, giữ, lớn, cùng ba câu hỏi chung

12 lab

phân loại, thanh trượt cung cầu, công tắc, ghép hồ sơ, lắp ráp hợp đồng, tìm câu sai, rẽ nhánh, xếp thứ tự, ghép cặp, trò chơi, so sánh, bước tuần tự

14 bẫy

mỗi bẫy gắn với một mục và phòng lab; nhiều bẫy có bài để quay lại

8 bài

6 chọn đáp án, 1 đúng sai, 1 trả lời ngắn

01

Bản đồ chung

Năm trạm, ba câu hỏi và một lớp nền

Sáng thứ Hai, Khuê (hư cấu), hai mươi hai tuổi, vừa học xong khóa điện lạnh, mở điện thoại đọc tin tuyển dụng và lưu lại ba nơi có vẻ hợp với mình. Chiều thứ Tư cô nhận được một lời mời phỏng vấn. Tuần sau, cô cầm trên tay bản hợp đồng, đọc tới đọc lui rồi hỏi lại hai điều khoản trước khi kí. Ba tháng sau, tiền công của tháng thứ hai về chậm, cô giữ bảng chấm công, hỏi người phụ trách và nhờ một người đại diện cùng trao đổi. Cuối năm, khách bắt đầu hỏi về loại máy tiết kiệm điện mà cô chưa từng lắp, nên cô đăng kí học thêm, rồi lại mở điện thoại đọc tin tuyển dụng. Năm việc nghe như năm chuyện rời nhau, nhưng thật ra là một hành trình có năm trạm nối nhau và quay vòng. Thị trường lao động là nơi người cần việc gặp người cần người. Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà pháp luật không cấm. Thất nghiệp là tình trạng người lao động mong muốn có việc làm nhưng chưa tìm được việc làm, và khi thống kê còn cần đang chủ động tìm việc (kiến thức bổ sung). Hợp đồng lao động là giấy cam kết sau khi gặp nhau. Quyền và nghĩa vụ là điều hai bên giữ trong lúc làm. Bài này gom các khái niệm ấy vào một bản đồ, để gặp tình huống lạ em biết mình đang đứng ở trạm nào và cần hỏi tiếp câu gì.

Vuốt ngang để xem đầy đủ hình.

Bản đồ chung: năm trạm ở hàng trên nối nhau và quay vòng, ba câu hỏi chung ở giữa, lớp nền Nhà nước và pháp luật ở dưới. Bấm vào một trạm hoặc lớp nền để đọc mô tả và số mục.

Ba câu hỏi, hỏi tại mỗi trạm

Cách chia năm trạm là cách học của LUKATO, không phải một danh sách có sẵn trong văn bản pháp luật. Nó hữu ích vì mỗi trạm có một câu hỏi lặp lại. Ai gặp ai nói bên nào đang tham gia và có bên đứng giữa không. Dựa vào đâu nói hai bên căn cứ vào thông tin, thỏa thuận hay quy định nào. Đứt ở đâu nói thiếu điều gì thì mắt xích gãy, và cách chặn trước. Bảng dưới đọc theo hàng là một trạm, đọc theo cột là một câu hỏi.

Trạm

Ai gặp ai

Dựa vào đâu

Đứt ở đâu

Mục

1 · TÌM

Người lao động (cung) gặp người sử dụng lao động (cầu), có thể qua bên đứng giữa như dịch vụ việc làm

Thông tin về vị trí, yêu cầu, tiền công; kỹ năng và nơi ở của người tìm việc

Cung và cầu không khớp về kỹ năng, nơi làm hoặc thông tin

2, 3, 4

2 · KÍ

Hai bên trực tiếp, mỗi bên có quyền hiểu rõ điều mình sắp cam kết

Nguyên tắc giao kết và các nội dung chính của hợp đồng lao động

Kí khi chưa hiểu, kí giấy trống, hoặc có điều khoản trái nguyên tắc

3 · LÀM

Người lao động và người sử dụng lao động, quản lí trực tiếp là người đại diện cho một phía

Hợp đồng, nội quy hợp pháp, các quy định về an toàn và tiền công

Quyền một phía, nghĩa vụ một phía: bên này đòi quyền mà quên nghĩa vụ đối ứng của mình

4 · GIỮ

Người lao động, người đại diện, cơ quan có trách nhiệm

Bằng chứng, thương lượng, đường báo đúng nơi, chế độ hỗ trợ khi mất việc

Tự xử, đáp trả, im lặng để bằng chứng mất dần, hoặc chuyển tiền cho một lời mời đáng ngờ khi chưa xác minh

5 · LỚN

Người lao động với chính mình, nhà trường, nơi đào tạo, nơi làm việc

Nhu cầu của thị trường lao động và kế hoạch học tập của cá nhân

Dừng học khi kỹ năng cũ không còn khớp yêu cầu mới

Cột «Mục» cho biết nơi trạm ấy được mở rộng nhiều nhất. Mục 3 nói về việc làm và thất nghiệp, tức là cách nhận biết một người đang ở trong hay ngoài thị trường.

Hai phía và một lớp nền

Có hai ý của bản đồ cần dừng lại. Ý thứ nhất là hai phía . Em không nên mặc định người lao động là bên yếu hơn hay người sử dụng lao động là bên mạnh hơn trước khi đọc tình huống; mỗi bên có quyền và có nghĩa vụ, và quyền của bên này thường là nghĩa vụ của bên kia (mục 6 sẽ ghép từng cặp). Ý thứ hai là lớp nền . Nhà nước không thay hai bên kí hợp đồng, nhưng đặt khung pháp luật để thỏa thuận nằm trong khuôn khổ, tổ chức dịch vụ việc làm và hỗ trợ đào tạo (kiến thức bổ sung về các cơ quan cụ thể sẽ gặp ở mục 7). Vì có lớp nền nên em sẽ thấy trong bài này một quy tắc lặp lại: hai bên được thỏa thuận, nhưng thỏa thuận không được trái pháp luật.

Vì sao hành trình là vòng lặp

Khi yêu cầu của thị trường đổi, người lao động có thể phải quay lại các trạm trước. Kỹ năng được cập nhật ở trạm 5 sẽ mở thêm lựa chọn khi quay lại trạm 1; hợp đồng đang thực hiện ở trạm 3 có thể kết thúc và đưa người ấy trở lại thị trường. Vì vậy bản đồ có đường nét đứt đi từ trạm 5 về trạm 1, và lab 12 cho em đi hết một vòng.

Từ điển một dòng: đưa chuột hoặc chạm vào chữ gạch chân

Thuật ngữ

Nghĩa ngắn

Mục

thị trường lao động

Nơi cung gặp cầu về lao động

cung lao động

Phía người tìm việc

cầu lao động

Phía người cần người

tiền công

Giá của sức lao động

việc làm

Lao động có thu nhập, không bị cấm

thất nghiệp

Muốn làm mà chưa có việc

hợp đồng lao động

Thỏa thuận về công việc, tiền công, quyền, nghĩa vụ

người sử dụng lao động

Bên thuê và trả công

2, 6

tổ chức đại diện

Nơi người lao động nhờ nói thay

bảo hiểm thất nghiệp

Hỗ trợ khi mất việc

học tập suốt đời

Học không dừng khi đã đi làm

Đoán trước, rồi thử tay

Đoán trước: một bạn đang đọc từng dòng của bản hợp đồng và tự hỏi «điều khoản này có nằm trong khuôn khổ pháp luật không». Hãy chọn trạm mà bạn ấy đang đứng, rồi mở phòng lab.

Bạn ấy đang ở trạm nào của bản đồ?

Cách dùng phòng lab

Xếp từng thẻ bằng cách chạm thẻ rồi chạm ô, hoặc kéo thẻ (nắm vào phần chấm ở đầu thẻ nếu dùng màn hình cảm ứng) thả vào ô. Sau khi bấm «Chấm các thẻ đã xếp», thẻ đúng viền xanh và thẻ sai viền đỏ; dòng kết luận giải thích ba thẻ sai đầu tiên. Phòng lab này luyện bẫy 1, sẽ gặp lại ở mục 7.

Cách dùng phòng lab 12

Bấm «Trạm sau» hoặc «Tự chạy» để đi từ trạm 1 đến trạm 5 rồi quay lại trạm 1. Với mỗi trạm, ô mô tả nêu ba câu trả lời: ai gặp ai, dựa vào đâu, đứt ở đâu. Cần đi tới bước quay lại trạm 1 để hoàn thành. Nếu thiết bị đặt chế độ giảm chuyển động thì «Tự chạy» không chạy tự động mà đi một trạm mỗi lần bấm, giống «Trạm sau»; khi lab trôi ra khỏi màn hình, chế độ tự chạy cũng dừng. Phòng lab này luyện bẫy 1.

Thử tay: dùng ba câu hỏi cho một tình huống ở tiệm sửa xe

Tiệm sửa xe của anh Bách (hư cấu) cần thêm một thợ. Anh đăng tin trong nhóm thợ của phường. Hạnh xem tin, thấy tiền công ghi «thỏa thuận» và yêu cầu «biết sửa xe tay ga». Hạnh mới học sửa xe số, nhưng nhắn tin xin phỏng vấn. Hãy trả lời ba câu hỏi cho trạm 1.

Gợi ý 1 · Ai gặp ai

Người cần người là anh Bách (cầu), người cần việc là Hạnh (cung). Nhóm thợ của phường đóng vai bên đứng giữa vì chuyển tin giúp hai phía.

Gợi ý 2 · Dựa vào đâu

Hai bên dựa vào thông tin trong tin tuyển dụng: yêu cầu kỹ năng và tiền công. Tiền công ghi «thỏa thuận» nghĩa là chưa có con số, nên Hạnh cần hỏi thêm trước khi quyết định.

Đáp án · đứt ở đâu

Có hai chỗ có thể đứt: kỹ năng (Hạnh biết sửa xe số, tiệm cần xe tay ga) và thông tin (tiền công chưa rõ). Cách chặn trước là Hạnh nói thật mình đã làm được gì, hỏi rõ tiền công và công việc; anh Bách cho biết yêu cầu cụ thể hơn. Nếu hai bên thấy chưa khớp, Hạnh có thể xem trạm 5: học thêm phần còn thiếu rồi quay lại.

Chỗ dễ nhầm ở bản đồ chung

Bẫy 1: cho rằng tìm được việc là xong hành trình. Bản đồ cho thấy còn ba trạm sau: kí, làm, giữ, và một vòng quay lại. Người dừng ở trạm 1 dễ bỏ qua việc đọc hợp đồng, bỏ qua quyền lợi trong lúc làm và bỏ qua việc cập nhật kỹ năng; ba chỗ ấy là những nơi hành trình có thể đứt.

Mục 2 mở trạm đầu tiên: thị trường lao động, các bên tham gia và cách cung cầu lao động tìm điểm gặp nhau.

02

Trạm 1 · TÌM · Thị trường lao động

Thị trường lao động: ba bên, hai phía cung và cầu, và một cái giá gọi là tiền công

Tháng sáu ở phường Bến Sen (hư cấu), ba xưởng mộc cùng dán thông báo cần thêm thợ. Cùng tuần ấy, trường nghề của phường có gần năm mươi bạn vừa tốt nghiệp đang tìm chỗ làm. Nhìn qua, hai tin ghép lại là xong: có người cần việc, có chỗ cần người. Nhưng sau hai tuần, một xưởng vẫn trống hai chỗ, trong khi nhiều bạn vẫn chưa có việc. Muốn hiểu vì sao, em cần nhìn phường ấy như một thị trường: nơi có người đưa sức lao động ra, có người muốn thuê, có mức tiền công đang được hai bên thương lượng, và có những kênh thông tin giúp hai phía tìm thấy nhau. Mục này dựng ba bên của thị trường lao động, định nghĩa cung và cầu lao động, rồi cho em tự kéo thanh tiền công để thấy cung và cầu phản ứng ra sao.

Thị trường lao động là gì, và ai tham gia

Thị trường lao động là nơi diễn ra việc trao đổi sức lao động giữa người có sức lao động (người lao động) và người cần sử dụng sức lao động (người sử dụng lao động), thông qua các thỏa thuận về tiền công và điều kiện làm việc. Chữ «nơi» ở đây không nhất thiết là một địa điểm. Một buổi hội việc làm của phường là thị trường lao động, một nhóm trò chuyện của các thợ trong khu phố cũng là thị trường lao động, một trang web tuyển dụng cũng vậy. Điều làm nên thị trường là có hai phía cùng trao đổi.

Vuốt ngang để xem đầy đủ hình.

Các bên của thị trường lao động: người lao động ở phía cung, người sử dụng lao động ở phía cầu, tiền công và điều kiện làm việc ở giữa; bên đứng giữa giúp thông tin đi qua lại; Nhà nước đặt khung bên dưới.

Bên

Vai trò

Đưa ra hay cần gì

Ví dụ (hư cấu)

NGƯỜI LAO ĐỘNG

Phía cung: đưa sức lao động ra thị trường để có thu nhập

Kỹ năng, kinh nghiệm, thời gian làm việc, mong muốn về tiền công và nơi làm

Khuê, Hạnh và các bạn vừa tốt nghiệp trường nghề

NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG

Phía cầu: cần người làm và trả tiền công

Số vị trí, yêu cầu về kỹ năng, địa điểm, mức tiền công có thể trả

Ba xưởng mộc và một cửa hàng điện máy của phường

BÊN ĐỨNG GIỮA

Nối hai phía bằng thông tin, tư vấn, giới thiệu

Danh sách vị trí còn trống, danh sách người đang tìm việc, hướng dẫn hồ sơ

Trung tâm dịch vụ việc làm, bảng tin của phường, trang tuyển dụng

NHÀ NƯỚC

Đặt khung pháp luật và hỗ trợ

Quy định chung, quản lí, hỗ trợ đào tạo, chính sách việc làm

Cơ quan quản lí nhà nước về lao động (kiến thức bổ sung)

Bốn hàng này sẽ trở lại ở mục 5 (khung pháp luật quanh hợp đồng) và mục 7 (nơi nhờ hỗ trợ khi cần).

Cung lao động, cầu lao động và tiền công

Cung lao động là số lượng và chất lượng sức lao động mà những người cần việc sẵn sàng đưa ra thị trường ở một mức tiền công cụ thể. Cầu lao động là số lượng và yêu cầu về sức lao động mà người sử dụng lao động muốn thuê ở mức tiền công ấy. Hai định nghĩa đều có hai tầng: bao nhiêu và thế nào . Cầu lao động không dừng ở con số «cần hai thợ»; nó còn gồm cả «thợ phải biết làm gì, làm ở đâu, giờ nào». Cung lao động cũng thế: không phải số người đứng tên tìm việc mà là những người có kỹ năng, nơi ở và thời gian phù hợp.

Tiền công trong thị trường này đóng vai trò của một cái giá, vừa là thông tin vừa là tín hiệu. Khi tiền công đưa ra cao hơn, nhiều người thấy đáng bỏ công đi làm hơn, nên cung có xu hướng tăng. Cũng ở mức cao ấy, người sử dụng lao động thấy mỗi người thuê tốn kém hơn, nên cầu có xu hướng giảm. Hình dưới vẽ hai xu hướng ấy bằng hai đường theo mô hình minh họa của LUKATO: khi tiền công tăng thêm một triệu đồng một tháng, có thêm 10 người muốn vào làm và các xưởng thuê ít đi 8 vị trí. Con số là minh họa; thực tế thay đổi theo từng nghề và từng nơi.

Ôn thi THPT 2027 cùng LUKATO AI — đề thi thử, gia sư AI 24/7, giải Toán bằng ảnh.
Bắt đầu miễn phí

Xem thêm