GIÁO DỤC KINH TẾ VÀ PHÁP LUẬT 11 · LẠM PHÁT VÀ THẤT NGHIỆP — Hai đồng hồ của nền kinh tế: mức giá chung, việc làm và cách Nhà nước giữ thăng bằng
Bài khái niệm Giáo dục kinh tế và pháp luật 11 về lạm phát và thất nghiệp: mức giá chung, CPI, ba mức độ và nguyên nhân lạm phát, hậu quả cùng công cụ của…
GIÁO DỤC KINH TẾ VÀ PHÁP LUẬT 11 · LẠM PHÁT VÀ THẤT NGHIỆP · LUKATO AI · BÀI KHÁI NIỆM
Hai đồng hồ của nền kinh tế
Mức giá chung tăng bao nhiêu, có bao nhiêu người muốn làm việc mà chưa có việc, và Nhà nước dùng công cụ gì để giữ cả hai kim trong tầm kiểm soát?
Hãy hình dung nền kinh tế là một cỗ máy có bảng điều khiển với hai đồng hồ: một đồng hồ đo mức giá chung (lạm phát), một đồng hồ đo việc làm (thất nghiệp). Đồng hồ chỉ là con số đọc được; điều cần hiểu là cái gì làm kim nhúc nhích. Hai số liệu thật (CPI và thất nghiệp năm 2025) và các điều luật là thật, đúng tính đến tháng 10/2026; mọi nhân vật, bảng số, tình huống khác là hư cấu.
6 SƠ ĐỒ TỰ DỰNG 2 PHÒNG THÍ NGHIỆM TƯ DUY THUẦN KHÁI NIỆM 8 CÂU TRẮC NGHIỆM TỰ SOẠN
Về chữ "hư cấu". Bài chỉ dùng hai số liệu thật: CPI bình quân năm 2025 và tỉ lệ thất nghiệp năm 2025 (Cục Thống kê, Bộ Tài chính). Số hiệu luật, điều luật là thật; luật có thể được sửa nên khi áp dụng thật phải tra văn bản hiện hành. Nhãn hư cấu dùng cho nhân vật, bảng số và tình huống tự dựng. Phần ngoài trọng tâm mang nhãn MỞ RỘNG .
MỤC 1 · ĐỒNG HỒ GIÁ
Mức giá chung, CPI và lạm phát
Giá mỗi món hàng đổi theo lí do riêng của nó. Nhưng khi người ta nói "lạm phát năm nay là 3%", đó là một con số duy nhất cho cả nền kinh tế. Con số ấy đo cái gì, và đo bằng cách nào?
1.1 Lạm phát là gì: ba chữ khóa
Lạm phát là sự tăng lên của mức giá chung của hàng hóa, dịch vụ trong nền kinh tế một cách liên tục trong một thời gian nhất định. Hệ quả trực tiếp: mỗi đồng tiền mua được ít hàng hơn, tức sức mua của đồng tiền giảm.
CHỮ KHÓA 1 Mức giá chung : giá của cả rổ hàng, không phải của vài mặt hàng. Chưa phải lạm phát: sau cơn bão, rau xanh tăng gấp đôi còn các nhóm hàng khác không đổi (hư cấu).
CHỮ KHÓA 2 Liên tục : giá chung tăng kéo dài qua nhiều kì, không phải một lần nhảy giá rồi dừng.
CHỮ KHÓA 3 Sức mua : hệ quả cần nhìn vào. Cùng một số tiền, lượng hàng mua được ít đi.
1.2 CPI: đo "mức giá chung" bằng một rổ hàng cố định
Hàng nghìn thứ hàng đổi giá khác nhau, nên không thể nhìn bằng mắt mà biết "mức giá chung". Cơ quan thống kê dùng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) : chỉ tiêu tương đối (tính theo phần trăm) phản ánh xu hướng và mức độ biến động giá chung theo thời gian của hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng. Cách làm: chọn một rổ hàng đại diện cho tiêu dùng của dân cư; mỗi nhóm hàng có quyền số là tỉ trọng chi tiêu của nhóm trong tổng chi tiêu, cố định theo năm gốc so sánh; CPI là bình quân gia quyền của các chỉ số giá (công thức kiểu Laspeyres).
Vuốt ngang để xem hết sơ đồ
Hình 1. Từ rổ hàng cố định (ba nhóm, quyền số, số liệu hư cấu) đến CPI rồi tỉ lệ lạm phát. Rổ và quyền số giữ nguyên nên hai kì so sánh được với nhau.
Tỉ lệ lạm phát là tỉ lệ phần trăm CPI kì này tăng so với kì trước. Ví dụ thật: theo Cục Thống kê (công bố ngày 5/1/2026), CPI bình quân năm 2025 tăng 3,31% so với năm 2024 , đạt mục tiêu do Quốc hội đề ra. Con số này là trung bình có trọng số của cả rổ: có mặt hàng tăng nhiều hơn, có mặt hàng giảm; không có nghĩa mọi mặt hàng đều tăng đúng 3,31%.
1.3 Ba hướng của kim giá: lạm phát, giảm lạm phát, giảm phát
TỈ LỆ LẠM PHÁT > 0 Lạm phát : mức giá chung tăng. Ví dụ (hư cấu): +4% là giá chung cao hơn 4% so với năm trước.
TỈ LỆ VẪN > 0 NHƯNG NHỎ DẦN Giảm lạm phát : giá vẫn tăng, chỉ tăng chậm hơn. Ví dụ (hư cấu): từ 6% xuống 3%, giá chung vẫn cao hơn năm trước.
TỈ LỆ < 0 Giảm phát : mức giá chung giảm liên tục, sức mua của đồng tiền tăng; kéo dài có thể làm chi tiêu, sản xuất co lại.
PHÒNG A CPI, tỉ lệ lạm phát và sức mua số liệu: hư cấu
Chế độ 1: gõ hai chỉ số CPI (dùng dấu phẩy cho phần thập phân) hoặc chọn ví dụ, xem tỉ lệ lạm phát và mức độ. Chế độ 2: kéo thanh để xem lạm phát tích lũy làm sức mua của tiền mặt và khoản tiền gửi thay đổi thế nào.
Chế độ
Ví dụ
CPI năm trước
CPI năm nay
Tỉ lệ lạm phát
Mức độ
Sức mua
Lạm phát mỗi năm
Số năm
Lãi suất gửi tiết kiệm mỗi năm
Mức độ lạm phát
Mức giá chung
100 triệu đồng tiền mặt (hư cấu)
100 triệu đồng gửi tiết kiệm (hư cấu)
Chốt ý mục 1: lạm phát = mức giá chung tăng liên tục; đo bằng CPI (rổ hàng cố định, quyền số); tỉ lệ lạm phát = % thay đổi của CPI so với kì trước Giảm lạm phát: giá vẫn tăng nhưng chậm hơn. Giảm phát: mức giá chung giảm.
giá cà phê (hư cấu) tăng 30% sau một vụ mất mùa, các nhóm hàng khác gần như không đổi. Có thể kết luận nền kinh tế đang lạm phát không?
Giải thích. Chưa. Lạm phát nói về mức giá chung của cả rổ hàng, tăng liên tục. Cà phê chỉ là một phần nhỏ của rổ (quyền số nhỏ), nên CPI chỉ nhích lên ít. Chỉ khi nhiều nhóm hàng cùng tăng kéo dài mới là lạm phát.
MỤC 2 · KIM GIÁ CHẠY NHANH ĐẾN ĐÂU
Ba mức độ và các nguyên nhân của lạm phát
Một nước lạm phát vài phần trăm và một nước lạm phát hàng trăm phần trăm sống hai cuộc đời khác hẳn nhau. Dựa vào đâu để phân loại, và vì sao mức giá chung lại tăng?
2.1 Ba mức độ theo tỉ lệ tăng CPI hằng năm
Căn cứ vào tỉ lệ tăng CPI hằng năm, bài chia lạm phát thành ba mức: vừa phải (một con số, dưới 10%/năm), phi mã (từ 10% đến dưới 1.000%/năm) và siêu lạm phát (từ 1.000%/năm trở lên). Tỉ lệ âm là giảm phát. Mức 3,31% của Việt Nam năm 2025 nằm trong khoảng vừa phải.
Vuốt ngang để xem hết sơ đồ
Hình 2. Bốn khoảng tỉ lệ lạm phát hằng năm; điểm đánh dấu là số liệu thật của Việt Nam năm 2025 (Cục Thống kê).
2.2 Vì sao mức giá chung tăng: bốn nguyên nhân
NGUYÊN NHÂN 1 · CẦU KÉO Chi tiêu chung (của hộ, doanh nghiệp, Nhà nước, người nước ngoài mua hàng trong nước) tăng nhanh hơn khả năng cung ứng, kéo giá lên . Dấu hiệu: sản xuất và việc làm cũng tăng.
NGUYÊN NHÂN 2 · CHI PHÍ ĐẨY Chi phí sản xuất (nguyên liệu, nhiên liệu, tiền lương, thuế) tăng, doanh nghiệp đẩy giá bán lên. Dấu hiệu: giá tăng mà sản xuất không tăng, có thể giảm.
NGUYÊN NHÂN 3 · LƯỢNG TIỀN Lượng tiền lưu thông vượt mức cần thiết: tiền nhiều hơn hàng thì mỗi đồng mua được ít đi; thường là nền cho cầu kéo.
NGUYÊN NHÂN 4 · BÊN NGOÀI Nền kinh tế mở nhập nguyên liệu, nhiên liệu; giá thế giới tăng truyền vào chi phí và giá trong nước.
MỞ RỘNG Hình 3 dùng mô hình tổng cầu (AD) và tổng cung ngắn hạn (AS) giản lược chỉ để thấy hướng chuyển động của giá (P) và sản lượng (Y). Thực tế thường nhiều nguyên nhân cùng lúc; hai dấu hiệu trên chỉ là gợi ý nhận diện.
Vuốt ngang để xem hết sơ đồ
Hình 3. Nét đứt xám: đường ban đầu; nét liền màu: đường sau khi dịch chuyển; E0, E1: điểm cân bằng trước và sau (mô hình giản lược).
Chốt ý mục 2: lạm phát vừa phải (dưới 10%/năm) · phi mã (10% đến dưới 1.000%) · siêu lạm phát (từ 1.000%); nguyên nhân: cầu kéo, chi phí đẩy, lượng tiền, yếu tố bên ngoài Cầu kéo: giá lên cùng sản xuất tăng. Chi phí đẩy: giá lên nhưng sản xuất co lại.
giá nhiên liệu thế giới (hư cấu) tăng mạnh; nhiều doanh nghiệp vận tải tăng giá cước, đơn hàng giảm. Thuộc nhóm nguyên nhân nào và sản xuất đi theo hướng nào?
Giải thích. Chi phí đẩy (cộng yếu tố bên ngoài, vì giá thế giới). Chi phí đầu vào tăng nên doanh nghiệp tăng giá bán; giá cao làm đơn hàng giảm, sản xuất có xu hướng thu hẹp chứ không mở rộng như cầu kéo.
MỤC 3 · KHI KIM CHẠY QUÁ NHANH
Hậu quả của lạm phát và công cụ của Nhà nước
Lạm phát thấp, ổn định thường sống chung được; lạm phát cao hoặc khó đoán thì không. Nó gây hại bằng những con đường nào, và Nhà nước làm gì?
3.1 Bốn con đường gây hại
Vuốt ngang để xem hết sơ đồ
Hình 4. Cây hậu quả: cột giữa là tác động trực tiếp (cam), cột phải là hệ quả cụ thể (tím).
Điều quan trọng không chỉ là giá tăng mà là giá tăng nhanh hơn thu nhập và khó đoán . Nếu lương tăng cùng tốc độ với giá thì sức mua giữ nguyên (tương tự: ở Phòng A, chế độ 2, đặt lãi suất gửi bằng tỉ lệ lạm phát thì khoản gửi giữ nguyên sức mua). Lạm phát nhẹ, ổn định thường được xem là chấp nhận được; khi cao hoặc kéo dài, tác động tiêu cực lấn át.
3.2 Công cụ của Nhà nước và cơ sở pháp lí
GIẢM LƯỢNG TIỀN, KÌM CẦU Tiền tệ: nâng lãi suất, tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc, bán giấy tờ có giá trên thị trường mở. Tài khóa: cắt giảm chi ngân sách, tăng thuế tiêu dùng.
TĂNG CUNG HÀNG HÓA Tín dụng ưu đãi cho sản xuất; giảm thuế nhập khẩu nguyên vật liệu, máy móc, thuế đầu tư để giảm chi phí và tăng sản lượng.
BÌNH ỔN THỊ TRƯỜNG Kiểm soát giá ở mức cần thiết, bình ổn thị trường hàng thiết yếu, ngoại tệ, vàng.
Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 46/2010/QH12 (thông qua ngày 16/6/2010, có hiệu lực từ ngày 1/1/2011, đã được sửa đổi, bổ sung), Điều 3: chính sách tiền tệ quốc gia là các quyết định về tiền tệ ở tầm quốc gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, gồm quyết định mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát và quyết định công cụ, biện pháp để đạt mục tiêu (khoản 1); Quốc hội quyết định chỉ tiêu lạm phát hằng năm thông qua việc quyết định chỉ số giá tiêu dùng, và giám sát việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia (khoản 2). Vì vậy CPI vừa là con số thống kê, vừa là thước đo của mục tiêu chính sách.
Kìm giá có cái giá. Kìm lạm phát cầu kéo bằng cách giảm chi tiêu chung có thể làm sản xuất co lại và việc làm giảm; vì thế mục 6 đặt hai đồng hồ cạnh nhau.
Chốt ý mục 3: lạm phát làm giảm sức mua, hao giá trị tiền gửi, nhiễu tín hiệu giá, phân phối lại của cải; Nhà nước dùng công cụ tiền tệ, tài khóa, tăng cung, bình ổn; Quốc hội quyết định chỉ tiêu lạm phát hằng năm (Luật 46/2010/QH12, Điều 3)
MỤC 4 · ĐỒNG HỒ VIỆC LÀM
Thất nghiệp: ai được đếm và đếm thế nào?
Người nghỉ hưu, sinh viên học toàn thời gian, người nội trợ đều không có việc làm trả lương, nhưng thống kê không gọi họ là thất nghiệp. Vậy ranh giới của "thất nghiệp" nằm ở đâu?
4.1 Thất nghiệp: không chỉ là "không có việc"
Theo cách diễn đạt trong sách giáo khoa, thất nghiệp là tình trạng người lao động mong muốn có việc làm nhưng chưa tìm được việc làm. Cơ quan thống kê cụ thể hóa thành ba yếu tố: người thất nghiệp là người từ đủ 15 tuổi trở lên mà trong thời kì tham chiếu có đủ cả ba yếu tố dưới đây; thiếu một yếu tố thì thường không được tính (thống kê chính thức còn có một trường hợp đặc biệt: người đã có việc sẽ bắt đầu sau nên chưa tìm việc vẫn được tính, bài không đi sâu).
YẾU TỐ 1 Hiện không làm việc . Người đang có việc làm là người có việc, không phải người thất nghiệp.
YẾU TỐ 2 Đang tìm kiếm việc làm . Người không còn tìm việc (ví dụ đã chán nản) không thỏa yếu tố này.
YẾU TỐ 3 Sẵn sàng làm việc . Người đang học toàn thời gian, chưa thể nhận việc ngay, không thỏa yếu tố này.
4.2 Chia dân số từ đủ 15 tuổi: ai ở trong, ai ở ngoài lực lượng lao động
Vuốt ngang để xem hết sơ đồ
Hình 5. Cây phân loại dân số từ đủ 15 tuổi: lực lượng lao động gồm người có việc làm và người thất nghiệp; nét đứt là nhóm ngoài lực lượng lao động.
Lực lượng lao động là những người từ đủ 15 tuổi trở lên có việc làm hoặc thất nghiệp trong thời kì tham chiếu. Tỉ lệ thất nghiệp là phần trăm số người thất nghiệp so với lực lượng lao động. Số liệu thật: năm 2025, tỉ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động của Việt Nam là 2,22% (khoảng 1,06 triệu người thất nghiệp trong độ tuổi lao động), giảm 0,02 điểm phần trăm so với năm 2024 (Cục Thống kê, công bố ngày 5/1/2026). Đây là chỉ tiêu tính riêng cho nhóm trong độ tuổi lao động nên mẫu số hẹp hơn lực lượng lao động từ đủ 15 tuổi mà công thức ở trên dùng.
4.3 Người nản chí: khi tỉ lệ thất nghiệp giảm mà việc làm không tăng
Một người thất nghiệp thôi tìm việc vì chán nản sẽ không còn thỏa yếu tố "đang tìm kiếm", nên rời lực lượng lao động: tử số giảm, mẫu số giảm, tỉ lệ thất nghiệp giảm dù không có thêm việc làm nào. Vì vậy chỉ nhìn một chỉ số là chưa đủ: cần xem thêm số người có việc làm và tỉ lệ tham gia lực lượng lao động (lực lượng lao động : dân số từ đủ 15 tuổi trở lên × 100%). Phòng B (chế độ 1) cho thử đúng tình huống này.
Chốt ý mục 4: thất nghiệp = không làm việc + đang tìm việc + sẵn sàng làm việc; tỉ lệ thất nghiệp = thất nghiệp : lực lượng lao động × 100% Không có việc chưa chắc là thất nghiệp; người ngoài lực lượng lao động không nằm trong tử số lẫn mẫu số.
một khu phố (hư cấu) có 100 người từ đủ 15 tuổi: 60 người có việc, 10 người thất nghiệp, 30 người ngoài lực lượng lao động. Tỉ lệ thất nghiệp có phải 10% không?
Giải thích. Không. Lực lượng lao động là 60 + 10 = 70 người; tỉ lệ thất nghiệp = 10 : 70 × 100% ≈ 14,3%. Mẫu số là lực lượng lao động, không phải cả 100 người, vì 30 người ngoài lực lượng lao động không nằm trong phép tính.