GIÁO DỤC KINH TẾ VÀ PHÁP LUẬT 10 · CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG — Giá cả là tín hiệu: cung, cầu, cạnh tranh và vai trò của Nhà nước
Chợ phiên Làng Mơ giúp hiểu vì sao giá cả là tín hiệu của cơ chế thị trường: thị trường và ba chức năng, cung, cầu, giá cân bằng, cạnh tranh, giá trần – giá…
GIÁO DỤC KINH TẾ VÀ PHÁP LUẬT 10 · LUKATO AI · BÀI KHÁI NIỆM
Chợ phiên Làng Mơ: giá cả là tín hiệu của thị trường
Không ai ra lệnh mà xoài vẫn được trồng, được chở ra chợ và đến đúng tay người cần: giá cả báo hiệu điều gì, và vì sao Nhà nước đôi khi vẫn phải can thiệp?
Hãy đến một phiên chợ ở làng Mơ (làng tự đặt cho bài, hư cấu). Sáng sớm, người bán gánh xoài ra, người mua cầm tiền đến. Chẳng có ai đứng giữa chợ phát lệnh "hôm nay bán bao nhiêu, giá bao nhiêu". Vậy mà đến trưa, xoài hết hoặc còn ế, giá nhích lên hoặc hạ xuống, và hôm sau mỗi người lại chọn khác đi. Bài này đọc chiếc "chợ phiên" ấy như một hệ thống: thị trường là gì và làm gì; vì sao người mua và người bán phản ứng với giá (cầu và cung); giá cân bằng hình thành ra sao; cạnh tranh làm gì cho giá và chất lượng; và khi nào Nhà nước dùng giá trần, giá sàn hay công cụ khác. Dữ kiện về khái niệm và pháp luật được đối chiếu sách giáo khoa và văn bản luật; mọi con số của chợ phiên là tự đặt để hiểu khái niệm.
12 SƠ ĐỒ TỰ DỰNG 3 PHÒNG THÍ NGHIỆM TƯ DUY THUẦN KHÁI NIỆM 8 CÂU TRẮC NGHIỆM TỰ SOẠN
BẢN ĐỒ BÀI
Sáu gian hàng và một tấm bảng giá
Phiên chợ làng Mơ có sáu "gian hàng", mỗi gian ứng với một mục của bài. Gian 1 cho biết thị trường gồm những gì và làm những việc gì. Gian 2 và gian 3 là hai phía của quầy hàng: cầu (người mua muốn mua bao nhiêu) và cung (người bán muốn bán bao nhiêu). Gian 4 là nơi hai phía gặp nhau ở một giá cân bằng . Gian 5 là sự cạnh tranh giữa nhiều người bán và nhiều người mua. Gian 6 là Nhà nước , người đứng ngoài chợ nhưng đôi khi bước vào. Chiếc chìa khóa chung của cả sáu gian là tấm bảng giá: giá không chỉ là một con số để trả, mà còn là một tín hiệu .
Vuốt ngang để xem hết sơ đồ
Hình 1. Bản đồ bài: sáu gian hàng của chợ phiên ứng với sáu mục (thị trường, cầu, cung, giá cân bằng, cạnh tranh, Nhà nước và thị trường). Hình 12 gom cả chợ vào một sơ đồ tư duy.
Câu hỏi của chợ phiên · Đọc bản đồ thế nào? · Ở mục
Thị trường chỉ là cái chợ có mái che, hay còn là gì nữa? · Các yếu tố, các loại và ba chức năng của thị trường · 1
Giá xoài giảm thì người mua làm gì? Còn khi họ có thêm tiền thì sao? · Cầu: bảng giá – lượng, đường cầu, nhân tố dịch chuyển · 2
Giá cao thì người bán làm gì? Còn khi phân bón đắt lên thì sao? · Cung: bảng giá – lượng, đường cung, nhân tố dịch chuyển · 3
Vì sao giá không đứng yên mà tự tìm một mức? · Giá cân bằng, dư cung, dư cầu, và việc điều chỉnh cần thời gian · 4
Có thêm người bán thì giá đi về đâu? · Cạnh tranh: hai mặt, lành mạnh và không lành mạnh · 5
Nếu Nhà nước ép giá xuống cho "dễ thở" thì chuyện gì xảy ra? · Giá trần, giá sàn và các công cụ khác · 6
Vuốt ngang để xem hết bảng
Công cụ A · Bảng giá – lượng
Muốn hiểu một người mua hay người bán, đừng hỏi "họ có mua (bán) không", hãy hỏi " ở mỗi mức giá họ muốn mua (bán) bao nhiêu". Cả bảng đó mới là cầu (cung).
Công cụ B · Đi dọc hay dịch chuyển
Đổi giá của chính hàng hóa thì chỉ di chuyển dọc một đường. Đổi nhân tố khác (thu nhập, chi phí, số người...) thì cả đường dịch chuyển.
Công cụ C · Ai bị ế, ai bị thiếu?
Ở một mức giá, so lượng muốn mua với lượng muốn bán. Bên nào nhiều hơn thì bên đó "phải nhường": dư cung thì người bán ế, dư cầu thì người mua thiếu.
Giả định của bài (dùng suốt bài). (a) Chợ phiên Làng Mơ, mặt hàng xoài, giá tính bằng nghìn đồng một ki-lô-gam, lượng tính bằng ki-lô-gam mỗi ngày. (b) Mô hình đơn giản: hàng hóa giống hệt nhau, rất nhiều người mua và người bán nhỏ, mỗi người xem giá là điều đã cho; khi xét một nhân tố thì các nhân tố khác giữ nguyên . (c) Khái niệm và pháp luật lấy từ sách giáo khoa Giáo dục kinh tế và pháp luật (bộ Kết nối tri thức, Cánh diều, Chân trời sáng tạo) và văn bản luật hiện hành; chỗ các sách nêu khác nhau, bài ghi phần giao nhau.
MỞ RỘNG Phạm vi so với chương trình. Ở lớp 10, chương trình đề cập thị trường, cơ chế thị trường và giá cả thị trường (khái niệm, chức năng). Các khái niệm cung, cầu, quan hệ cung – cầu và cạnh tranh được học chính thức ở lớp 11. Bài gom chúng vào một mạch để thấy vì sao "giá cả là tín hiệu". Phần mô hình bằng đường cung – đường cầu, giá trần – giá sàn và ba khung MỞ RỘNG (độ co giãn của cầu, thặng dư, độc quyền) là phần đào sâu, không bắt buộc.
Về chữ "hư cấu". Khái niệm và quy định pháp luật trong bài là thật, KHÔNG gắn nhãn hư cấu. Nhãn hư cấu chỉ dùng cho những gì bài tự dựng: chợ phiên Làng Mơ, các con số về giá và lượng, phòng trọ, công nhật thời vụ và các tình huống mẫu. Đừng lấy các con số ấy làm số liệu thật về giá xoài, giá thuê nhà hay tiền công ngoài đời.
MỤC 1 · THỊ TRƯỜNG
Thị trường là gì, gồm những gì, làm những việc gì
Nói đến "thị trường", nhiều người nghĩ ngay tới cái chợ. Chợ là một ví dụ, nhưng khái niệm rộng hơn nhiều: nó nằm ở chỗ người mua và người bán gặp nhau, theo nghĩa đen hoặc nghĩa bóng, để cùng xác định hàng hóa nào, bao nhiêu, giá nào. Mục này trả lời ba câu hỏi: thị trường gồm những yếu tố nào, có những loại nào, và làm ba việc gì cho nền kinh tế.
1.1 Các yếu tố cấu thành thị trường
Sách giáo khoa định nghĩa thị trường theo những cách gần nhau. Bộ Kết nối tri thức : thị trường là tổng hòa những quan hệ kinh tế , trong đó nhu cầu của các chủ thể được đáp ứng thông qua trao đổi, mua bán, với sự xác định giá cả, số lượng hàng hóa, dịch vụ. Bộ Cánh diều nhấn mạnh thị trường là nơi các chủ thể kinh tế gặp nhau để xác định số lượng, giá cả hàng hóa, dịch vụ khi mua và bán. Bộ Chân trời sáng tạo : lĩnh vực trao đổi, mua bán mà ở đó các chủ thể kinh tế tác động qua lại để xác định giá cả và số lượng hàng hóa, dịch vụ. Ba cách nói, một lõi chung: gặp nhau, trao đổi, xác định giá và lượng .
Từ đó, thị trường có các yếu tố: người mua – người bán , hàng hóa – tiền tệ , quan hệ mua – bán , giá cả – giá trị và cung – cầu . Ở phiên chợ làng Mơ: người bán gánh xoài (hàng hóa) ra; người mua đưa tiền (tiền tệ); hai bên mặc cả (quan hệ mua – bán); giá chốt cuối cùng xoay quanh giá trị của quả xoài; còn tổng số người muốn mua và tổng số người muốn bán chính là cầu và cung.
Vuốt ngang để xem hết sơ đồ
Hình 2. Thị trường nhìn từ chợ phiên: người mua tạo ra cầu, người bán tạo ra cung; hàng hóa đi một chiều, tiền đi chiều ngược lại; cung – cầu gặp nhau ở một mức giá. Dưới cùng: hai cấp độ để nhận ra thị trường.
Sách giáo khoa còn phân biệt hai cấp độ. Ở cấp độ cụ thể , thị trường quan sát được: chợ, cửa hàng, siêu thị, sàn giao dịch, kể cả nơi giao dịch trực tuyến. Ở cấp độ trừu tượng , ta không thấy "địa điểm" mà chỉ nhận ra qua các mối quan hệ: cung – cầu, hàng – tiền, cạnh tranh. Vì thế "thị trường lao động" hay "thị trường tiền tệ" vẫn là thị trường, dù chẳng có mái nhà nào.
1.2 Các loại thị trường
Tùy tiêu chí, người ta chia thị trường thành những loại khác nhau. Các sách chia hơi khác nhau; bảng dưới ghi phần giao nhau, kèm chú thích sách nào thêm tiêu chí.
Tiêu chí · Các loại · Ví dụ
Theo đối tượng mua bán · Thị trường từng loại hàng hóa, dịch vụ · Thị trường gạo, dầu mỏ, tiền tệ, bất động sản
Theo vai trò của đối tượng mua bán · Thị trường tư liệu sản xuất (yếu tố sản xuất) và thị trường tư liệu tiêu dùng (hàng tiêu dùng); thị trường lao động, khoa học – công nghệ · Máy móc, nguyên liệu; quần áo, thực phẩm; việc làm
Theo phạm vi · Thị trường trong nước và thị trường quốc tế (thế giới) · Chợ đầu mối trong nước; thị trường xuất khẩu
Theo cách thức gặp nhau (Cánh diều) · Thị trường truyền thống và thị trường trực tuyến · Chợ phiên; sàn thương mại điện tử
Theo tính chất và cơ chế vận hành (Cánh diều, Chân trời sáng tạo) · Thị trường cạnh tranh hoàn hảo và cạnh tranh không hoàn hảo (trong đó có độc quyền) · Nhiều người bán nhỏ bán hàng giống nhau; chỉ một người bán duy nhất
Vuốt ngang để xem hết bảng
Tiêu chí cuối cùng sẽ quay lại ở mục 5: mô hình chợ phiên của bài, với rất nhiều người bán nhỏ bán xoài giống nhau, chính là hình ảnh gần với thị trường cạnh tranh hoàn hảo; còn khi chỉ có một người bán thì ta ở thị trường độc quyền.
1.3 Ba chức năng của thị trường
Sách giáo khoa nêu ba chức năng cơ bản, và chúng nối thành một vòng khép kín:
1 · THỪA NHẬN Hàng hóa có bán được không, và bán với giá nào? Bán được nghĩa là xã hội thừa nhận công dụng của hàng và lao động đã bỏ ra. Đây là chức năng thừa nhận .
2 · THÔNG TIN Thị trường cung cấp cho các chủ thể thông tin về giá cả, số lượng, chất lượng, cơ cấu hàng hóa, tình hình cung – cầu. Đây là chức năng thông tin .
3 · ĐIỀU TIẾT, KÍCH THÍCH Dựa vào thông tin, người sản xuất và người tiêu dùng điều chỉnh: điều tiết việc sản xuất và tiêu dùng, kích thích hoặc hạn chế chúng.
Vuốt ngang để xem hết sơ đồ
Hình 3. Ba chức năng của thị trường nối thành một vòng khép kín, minh họa bằng chợ phiên (tình huống hư cấu): xoài loại A ế ẩm, bảng giá cho thấy xoài loại B đắt hàng, vườn bớt loại A và trồng thêm loại B.
Câu chuyện hư cấu ở hình 3: một vườn trồng hai loại xoài. Loại A ế, người mua không "bỏ phiếu" cho nó: thị trường chưa thừa nhận. Bảng giá cho thấy loại B đắt hàng: thị trường báo tin. Vườn trồng bớt loại A, thêm loại B: thị trường điều tiết. Không có cơ quan nào đi từng vườn ra lệnh; thông tin chạy qua giá. Một vòng chưa xong: loại B mới ra chợ lại phải được thừa nhận.
1.4 Giá cả thị trường và cơ chế thị trường
Giá cả thị trường là giá bán thực tế của hàng hóa, dịch vụ, do người mua và người bán thỏa thuận, tức do tác động qua lại của các chủ thể tại một thời điểm, địa điểm nhất định . Hai điểm cần nhớ. Thứ nhất, giá niêm yết chỉ là lời đề nghị của người bán; giá cả thị trường là giá hai bên thực sự chốt. Thứ hai, giá gắn với thời điểm và địa điểm: cùng quả xoài, sáng sớm và chiều muộn, ở làng và ở thành phố, có thể có giá khác nhau.
Sách giáo khoa nêu ba chức năng của giá cả thị trường . Một là cung cấp thông tin : nhìn giá, các chủ thể quyết định mở rộng hay thu hẹp sản xuất, tăng hay giảm tiêu dùng; qua biến động giá, họ nhận biết hàng hóa đang khan hiếm hay dư thừa tương đối. Hai là phân bổ nguồn lực giữa các ngành: giá cao kéo vốn, lao động, đất đai vào ngành đó; giá thấp đẩy ra. Ba là công cụ để Nhà nước quản lí, điều tiết, kích thích nền kinh tế (mục 6).
Vuốt ngang để xem hết sơ đồ
Hình 4. Giá là tín hiệu: giá tăng báo hiệu hàng khan hiếm tương đối, kéo người mua bớt mua, người bán bán thêm, nguồn lực chảy vào ngành; giá giảm báo hiệu điều ngược lại. Giá còn là công cụ để Nhà nước quản lí, điều tiết.
Khi các chủ thể phản ứng với giá, và các quy luật như cạnh tranh, cung – cầu, giá cả chi phối hành vi của họ, ta có cơ chế thị trường : hệ thống các quan hệ kinh tế mang tính tự điều chỉnh , như một " bàn tay vô hình " điều tiết nền kinh tế, thực hiện việc phân bổ các nguồn lực . Cơ chế này có ưu điểm và nhược điểm:
Ưu điểm · Nhược điểm
Kích thích tính năng động, sáng tạo của các chủ thể; thúc đẩy lực lượng sản xuất và tăng trưởng; phân bổ lại nguồn lực · Tiềm ẩn rủi ro khủng hoảng , suy thoái; phát sinh thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh ; không tự khắc phục được sự phân hóa sâu sắc trong xã hội; có thể gây suy thoái tài nguyên, ô nhiễm môi trường
Vuốt ngang để xem hết bảng
Vì nhược điểm ấy, sách giáo khoa kết luận Nhà nước cần tăng cường quản lí vĩ mô để khắc phục. Đó là câu hỏi của mục 6.
MỞ RỘNG Giá chỉ "biết" những gì được tính vào giá. Hình ảnh "bàn tay vô hình" do nhà kinh tế học Adam Smith (thế kỉ XVIII) dùng để nói rằng người ta mưu cầu lợi ích riêng nhưng nhờ giá cả mà kết quả chung vẫn có trật tự. Giới hạn của tín hiệu giá: nếu một nhà máy xả khói mà người chịu thiệt không được tính vào giá bán của sản phẩm, thì bảng giá không "báo" cho ai biết thiệt hại ấy. Kinh tế học gọi đó là ngoại tác . Đây là một lí do kinh tế học nêu để giải thích vì sao thị trường cần thêm quy định của Nhà nước.
Chốt ý mục 1: thị trường = nơi người mua và người bán gặp nhau để xác định giá và lượng; làm ba việc: thừa nhận, thông tin, điều tiết (kích thích) Yếu tố: người mua – người bán, hàng hóa – tiền tệ, quan hệ mua – bán, giá cả – giá trị, cung – cầu. Giá cả thị trường là giá bán thực tế, thỏa thuận tại một thời điểm, địa điểm; ba chức năng của giá: thông tin, phân bổ nguồn lực, công cụ của Nhà nước. Cơ chế thị trường tự điều chỉnh nhưng có nhược điểm nên cần quản lí vĩ mô.
Một bạn nói "giá xoài là con số người bán ghi trên bảng, người mua chỉ việc trả". Dựa vào khái niệm giá cả thị trường, câu này sai ở đâu?