Toán 12: Tích phân, từ diện tích đến F(b) − F(a), sáu chìa khóa (hệ thống khái niệm)
Chuyên đề khái niệm Toán 12: tích phân là phép cộng dồn những mẩu nhỏ. Sáu chìa khóa (cộng dồn, hình thang cong, hàm diện tích, định nghĩa F(b) − F(a), tính…
Máy cộng dồn · tình huống 1/5 · Quãng đường
LUKATO AI · Toán 12 · Chuyên đề khái niệm
Tích phân: cộng dồn những mẩu nhỏ
Quãng đường xe đã đi, diện tích dưới một đường cong, lượng nước đã chảy vào bể: đều là những đại lượng tích lũy từ vô số mẩu rất nhỏ. Bài này cho bạn tự tay chia , xấp xỉ , cộng dồn , rồi đối chiếu với F(b)-F(a): vì sao hiệu hai giá trị của một nguyên hàm lại cho đúng con số ấy, tích phân nói gì khi đồ thị chui xuống dưới trục, và nó đo gì trong thực tiễn. Mọi ví dụ và câu hỏi do LUKATO AI tự soạn, số liệu chỉ là giả định để học.
Máy cộng dồn
Chọn tình huống, rồi kéo chấm trên đồ thị hoặc dùng thanh trượt bên dưới.
Tình huống 1 · Quãng đường là diện tích dưới đồ thị vận tốc
Mỗi mẩu thời gian \Delta t góp thêm v\cdot\Delta t mét; cộng dồn các mẩu là diện tích dưới đồ thị v–t. Đơn vị: m/s × s = m.
Tình huống 2 · Hình thang cong và hiệu F(b) − F(a)
Với f(x)=2+\sin x, một nguyên hàm là F(x)=2x-\cos x. Diện tích hình thang cong là F(b)-F(a); thay F bằng F+C thì hai giá trị đều đổi, hiệu thì không.
Tình huống 3 · Chia mẩu, xấp xỉ, cộng dồn
Chia [0;4] thành n mẩu rộng \Delta x, thay mỗi mẩu bằng một hình chữ nhật rồi cộng lại. Tăng n, tổng tiến sát giá trị F(b)-F(a). (Trực giác mở rộng, không phải định nghĩa trong sách giáo khoa.)
Tình huống 4 · Hàm diện tích S(x)
Với f liên tục, S'(x)=f(x): S là một nguyên hàm của f, nên S(x)=F(x)-F(0). Độ dốc ở đây được tính từ chính các giá trị của S.
Tình huống 5 · Khi đồ thị chui xuống dưới trục
\int_a^b f(x)\,dx là diện tích có dấu (phần trên trục dương, phần dưới trục âm); diện tích hình phẳng là \int_a^b|f(x)|\,dx. Nếu f là vận tốc: độ dời và quãng đường đi được.
Bắt đầu: cộng dồn từ chuyển động › Xem bản đồ bài học Nhảy tới hàm diện tích Tổng kết
6 chìa khóa từ chuyển động đến F(b)-F(a)
35 phòng lab kéo, đặt, đoán rồi kiểm chứng
Đề tự sinh ngẫu nhiên, tự chấm
Kiểm bằng máy đáp án của các bộ sinh đề đều được tính lại độc lập
Tiến độ của bạn
0%
Bản đồ bài học
Một ý tưởng, sáu chìa khóa
Muốn biết một đại lượng đã tích lũy được bao nhiêu khi chỉ biết tốc độ hay chiều cao ở từng thời điểm, ta CHIA nhỏ ra, XẤP XỈ mỗi mẩu bằng một hình chữ nhật, CỘNG DỒN lại, rồi để các mẩu nhỏ dần: kết quả tiến đến một số duy nhất. Cây cầu kì diệu là hàm diện tích S(x) có S'(x)=f(x), tức S là một nguyên hàm của f; vì thế số duy nhất ấy bằng F(b)-F(a). Sáu chìa khóa đi từ chuyển động đến diện tích, từ diện tích đến nguyên hàm, rồi từ định nghĩa đến thực tiễn. Bấm một chủ đề để tới chìa khóa tương ứng.
Mỗi ô chỉ ghi tên một chủ đề, không ghi dữ kiện. Màu ô là màu của chìa khóa mà nó dẫn tới.
Cách học bài này
Bài chỉ dựng hệ thống khái niệm ; mỗi chìa khóa có năm phòng lab xen giữa lí thuyết, không có phần chữa bài.
- Hãy dự đoán trước rồi mới kéo hay bấm; phòng lab chỉ tính hoàn thành khi bạn làm xong nhiệm vụ (xem lời giải thì không tính).
- Phần xấp xỉ bằng hình chữ nhật là trực giác mở rộng ; sách giáo khoa Toán 12 định nghĩa tích phân bằng F(b)-F(a), và bài làm theo cách đó.
- Luôn tự kiểm đơn vị, dấu và độ lớn của kết quả.
① CHIA Cắt đoạn [a;b] thành nhiều mẩu nhỏ đều nhau.
② XẤP XỈ Trên mỗi mẩu, thay đại lượng đang biến thiên bằng một giá trị gần như không đổi: hình chữ nhật.
③ CỘNG DỒN Cộng mọi mẩu lại; mẩu càng nhỏ, tổng càng sát một số duy nhất.
④ ĐỐI CHIẾU Số duy nhất ấy bằng F(b)-F(a) với F là một nguyên hàm bất kì của f.
TIẾN ĐỘ TOÀN BÀI 0%
Mở đầu chương tích phân · từ chuyển động đến diện tích
Biết vận tốc ở từng thời điểm, làm sao biết vật đã đi được bao xa?
Đồng hồ tốc độ cho ta vận tốc tại từng khoảnh khắc , nhưng điều ta cần thường là tổng quãng đường . Nếu xe chạy đều thì chỉ việc nhân. Còn nếu vận tốc cứ thay đổi thì sao? Bài này kể câu trả lời bằng một ý tưởng duy nhất, sẽ đi suốt cả chương: cộng dồn . Quãng đường hóa ra là một diện tích nằm dưới đồ thị vận tốc.
Ý tưởng cốt lõi Khi vận tốc v\ge0 (vật không đổi chiều), quãng đường đi được bằng diện tích nằm dưới đồ thị v–t . Nếu v không đổi thì đó là hình chữ nhật: s=v\cdot t. Nếu v thay đổi, ta chia thời gian thành các mẩu thật ngắn, trong mỗi mẩu coi v gần như không đổi, rồi cộng các tích “vận tốc × thời gian” của từng mẩu. Mẩu càng ngắn, tổng càng sát quãng đường thật. Đơn vị cũng khớp: m/s × s = m, nên diện tích ở đây có đơn vị mét .
Vận tốc không đổi: hình chữ nhật
Vật chạy với vận tốc không đổi v (m/s) từ giây t_1 đến giây t_2. Khoảng thời gian là \Delta t=t_2-t_1, và quãng đường là
s=v\cdot\Delta t.
Trên đồ thị v–t, v là chiều cao và \Delta t là chiều rộng của hình chữ nhật dưới đoạn nằm ngang, nên s chính là diện tích của nó. Mỗi ô lưới cao 1 m/s, rộng 1 s, tức đại diện cho 1\cdot1=1 mét.
Hình 1. v=6 m/s từ giây 2 đến giây 7: rộng 5, cao 6, gồm 30 ô, vậy s=30 m. Quãng đường chỉ phụ thuộc độ dài khoảng thời gian, không phụ thuộc mốc bắt đầu.
Vận tốc đổi đều: hình thang và tam giác
Nếu vận tốc tăng (hoặc giảm) đều từ v_1 đến v_2 trong \Delta t giây thì đồ thị là một đoạn thẳng, và vùng dưới nó là một hình thang có hai đáy v_1,v_2, chiều cao \Delta t:
s=\frac{v_1+v_2}{2}\cdot\Delta t.
Hiểu theo cách tách hình: hình chữ nhật có chiều cao bằng đáy thấp hơn, cộng thêm một tam giác (ở Hình 2: chữ nhật cao v_1, vì v tăng). Khi v_1=0 (xuất phát từ nghỉ), hình thang thành tam giác : s=\tfrac12v_2\Delta t. Con số \dfrac{v_1+v_2}{2} là vận tốc trung bình, và công thức này chỉ đúng khi v đổi đều (đồ thị là đoạn thẳng).
Hình 2. v=3+2t trên [0;4]: hình chữ nhật 3\times4=12 cộng tam giác \tfrac12\cdot4\cdot8=16, tổng 28 m, trùng với \dfrac{3+11}{2}\cdot4=28.
Vận tốc cong: chia thành mẩu rồi cộng dồn
Khi đồ thị là đường cong, ví dụ v(t)=\tfrac12t^2+1 (m/s) trên [0;4] giây, ta không có sẵn công thức hình học. Cách làm là chia nhỏ :
- Chia [0;4] thành n mẩu bằng nhau, mỗi mẩu dài h=\dfrac4n giây, với các mốc t_0=0,\,t_1,\,\dots,\,t_n=4.
- Trong mỗi mẩu, coi vận tốc không đổi và bằng giá trị ở đầu trái : quãng đường mẩu đó \approx v(t_i)\cdot h, diện tích một hình chữ nhật mảnh.
- Cộng dồn : s\approx v(t_0)h+v(t_1)h+\dots+v(t_{n-1})h. Gọi là tổng đầu trái .
Nếu lấy vận tốc ở đầu phải mỗi mẩu thì được tổng đầu phải v(t_1)h+\dots+v(t_n)h. Hình 3 làm với n=4, h=1: các chiều cao là v(0)=1, v(1)=1{,}5, v(2)=3, v(3)=5{,}5, nên tổng đầu trái là 1+1{,}5+3+5{,}5=11 m.
Hình 3. Bốn hình chữ nhật mảnh dưới đường v=\tfrac12t^2+1: đều nằm dưới đường cong (vì v tăng), nên tổng 11 m thiếu so với quãng đường thật.
Vì v tăng, vận tốc ở đầu trái là nhỏ nhất trong mỗi mẩu, tổng đầu trái thiếu ; vận tốc ở đầu phải là lớn nhất nên tổng đầu phải thừa . Quãng đường thật S bị “kẹp” giữa hai tổng. Chia càng mịn, hai tổng càng gần nhau:
số mẩu n
16
độ rộng h (s)
0,5
0,25
tổng đầu trái (m)
11
12,75
13,6875
tổng đầu phải (m)
36
24
19
16,75
15,6875
phải trừ trái (m)
32
16
Quãng đường thật vào khoảng 14{,}67 m (ta sẽ biết tính chính xác ở các bài sau): nó luôn nằm giữa hai hàng đầu. Để ý hàng cuối: phải trừ trái =(v(4)-v(0))\cdot h=8h , nên nó giảm một nửa mỗi khi số mẩu tăng gấp đôi. Lí do: hai tổng gồm cùng các hình chữ nhật, chỉ khác ở chỗ tổng đầu phải có thêm cột cao v(4) và thiếu cột cao v(0).
Chậm dần đều đến khi dừng hẳn
Một đoàn tàu vào ga: vận tốc giảm đều theo v(t)=v_0-ct, với c (m/s²) là độ giảm vận tốc mỗi giây. Tàu dừng khi v=0:
v_0-ct_0=0\ \Longrightarrow\ t_0=\frac{v_0}{c}.
Từ t=0 đến t_0, vùng dưới đồ thị là tam giác đáy t_0, cao v_0, nên quãng đường phanh là
s=\frac12\,v_0\,t_0=\frac{v_0^2}{2c}.
Vì s tỉ lệ với v_0^2 và tỉ lệ nghịch với c: vận tốc đầu gấp đôi thì quãng đường phanh gấp bốn (cả chiều cao lẫn đáy đều gấp đôi); phanh gấp hơn (c gấp đôi) thì quãng đường giảm một nửa .
Hình 4. v=15-1{,}5t: dừng tại t_0=\dfrac{15}{1{,}5}=10 s; s=\tfrac12\cdot10\cdot15=75 m, cũng bằng \dfrac{15^2}{2\cdot1{,}5}. Phần nét đứt (t\gt10, v\lt0) không còn mô tả đoàn tàu.
Phạm vi của mô hình. Công thức v=v_0-ct chỉ có nghĩa với 0\le t\le t_0. Sau khi dừng, tàu đứng yên (v=0), chứ không chạy lùi; nếu vẫn thay t\gt t_0 vào công thức ta được v\lt0, một kết quả vô nghĩa với vật đã dừng.
Bẫy: “quãng đường = vận tốc × thời gian” chỉ đúng khi vận tốc không đổi Với vận tốc thay đổi, nhân một vận tốc nào đó (đầu, cuối) với cả thời gian là sai: đồ thị khi ấy không còn là hình chữ nhật. Với đoạn thẳng, nhân vận tốc trung bình \dfrac{v_1+v_2}{2} với thời gian; với đường cong, phải chia mẩu rồi cộng dồn.
Bẫy mô hình: các lỗi hay gặp
- Cộng thay vì nhân. Lấy 8+5 cho “8 m/s trong 5 s” là cộng một vận tốc với một thời gian. Đơn vị cho biết ngay: m/s × s = m, nên phải nhân .
- Dùng hình chữ nhật cho cả tam giác hoặc hình thang. Với v đổi đều, vùng dưới đồ thị không phải hình chữ nhật: nhân v cuối (hoặc v đầu) với cả thời gian cho kết quả lệch: thừa nếu giá trị dùng lớn hơn vận tốc thật ở phần lớn đoạn, thiếu nếu nhỏ hơn.
- Quên chia đôi khi tính diện tích tam giác hoặc hình thang.
- Dùng công thức sau khi vật đã dừng. Với v=v_0-ct, chỉ xét 0\le t\le t_0=v_0/c; đừng tính quãng đường tới một mốc t\gt t_0 bằng cùng công thức.
- Nhầm thời điểm dừng với quãng đường dừng. t_0=v_0/c đo bằng giây ; quãng đường s=\dfrac{v_0^2}{2c} đo bằng mét .
Giới thiệu: khi vận tốc đổi dấu, quãng đường khác độ dời
Trong bài ta quy ước v\ge0. Nếu vật đi ngược chiều dương lúc đầu rồi quay lại, vận tốc âm rồi dương. Khi đó có hai đại lượng khác nhau: độ dời (vị trí cuối trừ vị trí đầu, có dấu ) bằng diện tích có dấu (phần trên trục tính cộng, phần dưới trục tính trừ); quãng đường (tổng chiều dài đã đi) cộng độ lớn của mọi phần.
Hình 5. v=2t-6 trên [0;5]: vật lùi trong 3 s đầu (diện tích 9), rồi tiến trong 2 s sau (diện tích 4). Độ dời =-9+4=-5 m; quãng đường =9+4=13 m.
Đây mới là phần giới thiệu; diện tích có dấu và độ dời được đi sâu ở các bài sau. Mọi số trong bài này là số giả định để học.
Cách nhớ Làm theo bốn bước ĐỌC – DỰNG – TÍNH – KIỂM . Đọc : vận tốc thế nào theo thời gian, trong khoảng nào? Dựng : vẽ đồ thị v–t và nhận ra hình nằm dưới nó (chữ nhật, tam giác, hình thang hay đường cong). Tính : diện tích hình đó (hoặc chia mẩu rồi cộng dồn). Kiểm : đơn vị là mét, kết quả dương và hợp lí.
Mở rộng cho học sinh giỏi: sai số của tổng đầu trái
Với mọi hàm v và n mẩu bằng nhau độ rộng h, tổng đầu phải trừ tổng đầu trái luôn bằng \big(v(b)-v(a)\big)h (các cột ở giữa triệt tiêu nhau). Khi v chỉ tăng hoặc chỉ giảm, quãng đường thật S nằm giữa hai tổng nên sai số của tổng đầu trái không vượt quá |v(b)-v(a)|\cdot h. Vì vậy chỉ cần n\ge\dfrac{|v(b)-v(a)|\,(b-a)}{\varepsilon} là bảo đảm sai số dưới \varepsilon. Ví dụ v=\tfrac12t^2+1 trên [0;4] và \varepsilon=1 m: n\ge\dfrac{8\cdot4}{1}=32 là đủ (thực tế sai số nhỏ hơn, khoảng 0{,}5 m).
Còn một cách chia khéo hơn: lấy vận tốc ở trung điểm mỗi mẩu. Với v=\tfrac12t^2+1, n=4, tổng trung điểm là 14{,}5 m, gần 14{,}67 m hơn nhiều so với 11 m của tổng đầu trái, vì phần thừa và phần thiếu trong mỗi mẩu gần bù nhau. Dùng chế độ “Trung điểm” trong phòng lab ở trên để thử.
Bước KIỂM: kết quả có hợp lí không?
- Đơn vị. m/s × s = m. Nếu đáp án ra m/s hay s thì đã nhầm đại lượng.
- Dấu và giả thiết. Khi v\ge0, quãng đường \ge0. Hãy ghi rõ giả thiết v\ge0 trên đoạn đang xét; nếu v đổi dấu thì phải tách đoạn.
- Độ lớn. Quãng đường nằm giữa v_{\min}\cdot\Delta t (hình chữ nhật thấp nhất) và v_{\max}\cdot\Delta t (hình chữ nhật cao nhất).
- Chậm dần đến dừng. s=\dfrac{v_0^2}{2c} phải bằng một nửa hình chữ nhật v_0t_0 và dương; t_0 tính bằng giây.
- Chia mẩu. Khi v đơn điệu, quãng đường thật nằm giữa tổng đầu trái và tổng đầu phải; hiệu hai tổng bằng |v(b)-v(a)|\,h.
- Phạm vi mô hình. Công thức v_0-ct chỉ dùng khi 0\le t\le t_0.
Chốt: cộng dồn
v theo t → chia thành mẩu, coi v không đổi → cộng các v\cdot h → diện tích dưới đồ thị
- Với v\ge0: quãng đường = diện tích dưới đồ thị v–t (m/s × s = m).
- v không đổi: hình chữ nhật s=v\,\Delta t. v đổi đều: hình thang s=\dfrac{v_1+v_2}{2}\Delta t, tam giác nếu v_1=0.
- v cong: chia n mẩu rồi cộng dồn; v tăng thì tổng đầu trái thiếu, tổng đầu phải thừa; hiệu hai tổng =|v(b)-v(a)|\,h.
- Chậm dần đều đến dừng: t_0=\dfrac{v_0}{c}, s=\dfrac{v_0^2}{2c}; v_0 gấp đôi thì s gấp 4, c gấp đôi thì s giảm một nửa; mô hình chỉ đúng khi 0\le t\le t_0.
- Luôn kiểm : đơn vị, dấu, độ lớn, phạm vi mô hình.