Ngữ văn 12: Hài kịch đọc bằng ba thủ pháp, Phóng đại có neo đời thường, Hiểu lầm khi khán giả biết trước, Tương phản giữa lời và việc
Chuyên đề Ngữ văn 12 về hài kịch, thể loại cả ba bộ sách giáo khoa đưa vào lớp 12: thay vì học thuộc định nghĩa, ta biến ba thủ pháp trào phúng mà sách nêu…
LUKATO AI · NGỮ VĂN 12
PHÓNG ĐẠI · HIỂU LẦM · TƯƠNG PHẢN
Hài kịch
đọc bằng ba
thủ pháp
Định nghĩa hài kịch rất dễ thuộc, nhưng gặp đoạn kịch lạ trong đề thì khó chỉ ra tiếng cười nằm ở đâu. Chuyên đề này đổi ba thủ pháp trào phúng mà sách giáo khoa nêu thành ba câu hỏi (phóng đại đến đâu, ai hiểu sai và khán giả biết gì, lời lệch việc bao nhiêu) rồi cho bạn kiểm bằng ba phòng thí nghiệm tương tác trên cảnh kịch tự viết.
- 1. Máy Phóng đại: kéo mức phóng đại từ 0 đến 8 trên ba thói keo kiệt, sĩ diện, nịnh trên, đếm chi tiết đời thường còn giữ lại và xem chỉ số cười lên đỉnh rồi tắt
- 2. Máy Hiểu lầm: chạy cảnh Người ghi số điện tám lượt, tô màu ai hiểu sai, khán giả biết gì, đếm chấm cười trớ trêu theo mở đầu, thắt nút, giải quyết
- 3. Máy Lời và Việc: chấm độ lệch giữa lời ông Tằn tự nhận và việc trong chỉ dẫn sân khấu hay lời nói riêng, bật công tắc ẩn từng lớp chữ
phòng thí nghiệm tương tác
bí kíp có chỗ vỡ
hiểu lầm được phản biện
01
Khái niệm lõi
Hài kịch: một thói tật, ba cách làm lộ
Cả ba bộ sách Ngữ văn 12 đều dành một bài cho hài kịch : Kết nối tri thức có Bài 5 Tiếng cười của hài kịch, Chân trời sáng tạo có Bài 5 Tiếng cười trên sân khấu, Cánh diều có Bài 2 Hài kịch. Phần tri thức Ngữ văn nói gọn: hài kịch là thể loại kịch dùng tiếng cười để châm biếm những thói hư tật xấu, những hiện tượng đi chệch chuẩn mực tốt đẹp như vụ lợi, kệch cỡm, cực đoan, lạc hậu, ảo tưởng. Học thuộc câu ấy thì dễ, nhưng gặp một đoạn kịch lạ trong đề thì khó chỉ ra tiếng cười nằm ở đâu. Chuyên đề này bám vào ba thủ pháp trào phúng mà sách nêu: phóng đại cử chỉ, điệu bộ, thói tật; tạo tình huống hiểu lầm hài hước; và tạo tương phản gây cười. Mỗi thủ pháp là một cách làm lộ thói tật, và mỗi cách được đổi thành một câu hỏi kiểm được trên chữ.
Phóng đại · Lab 1
Phóng đại đến đâu?
Thói tật được làm to đến mức nào, và còn bao nhiêu chi tiết đời thường để người xem nhận ra nó là thói tật thật?
Hiểu lầm · Lab 2
Ai đang hiểu sai?
Ai hiểu sai tình thế, khán giả có biết sự thật không, và nhân vật có hành động theo điều hiểu sai không?
Tương phản · Lab 3
Lời lệch việc bao nhiêu?
Nhân vật tự nhận điều gì, chỉ dẫn sân khấu và lời nói riêng cho thấy điều gì, hai bên lệch nhau bao xa?
Hình 1. Trái: bốn ý về hài kịch theo phần tri thức Ngữ văn của sách giáo khoa (diễn đạt lại). Phải: ba thủ pháp trào phúng mà sách nêu, mỗi thủ pháp là một cách làm lộ thói tật; cách gom thành ba máy là của LUKATO.
Bảy yếu tố của hài kịch và câu hỏi đặt cho mỗi yếu tố
Yếu tố · Sách giáo khoa nói gì (diễn đạt lại) · Câu hỏi khi đọc đề
Xung đột · Mâu thuẫn giữa tham vọng, toan tính vật chất, mưu kế tầm thường, coi thường lẽ phải với chuẩn mực và tiến bộ xã hội. · Cái gì của nhân vật đang va vào lẽ phải?
Nhân vật · Tiêu biểu cho một thói tật đáng cười, đáng phê phán; hay nhầm lẫn, ứng xử không hợp với thực tế. · Nhân vật này là hiện thân của thói gì?
Hành động · Hành động bên ngoài, toan tính, mưu mô đều được bộc lộ bằng lời, làm nổi tính cách chủ đạo. · Lời và việc của nhân vật bộc lộ thói ấy ra sao?
Ngôn ngữ · Đối thoại, độc thoại, chỉ dẫn sân khấu; lời gần đời sống, dùng chơi chữ, nói lái, nói quá, nói lỡ, cường điệu, tương phản. · Câu nào gây cười, nhờ biện pháp nào?
Tình huống · Diễn ra trong sinh hoạt đời thường; có thể hiểu lầm, trớ trêu, dở khóc dở cười nhưng không bi đát và được giải quyết tốt đẹp. · Tình huống đặt nhân vật vào chỗ lố nào?
Kết cấu · Tổ chức theo một hành động kịch nhất quán, ba phần: mở đầu, thắt nút, giải quyết xung đột. · Nút thắt ở đâu, gỡ ở đâu?
Thủ pháp trào phúng · Tạo tình huống hiểu lầm, phóng đại cử chỉ điệu bộ thói tật, tạo tương phản. · Thủ pháp nào làm lộ thói tật?
Vì sao học hài kịch bằng câu hỏi
Đề đọc hiểu hay hỏi: chỉ ra thủ pháp trào phúng, nêu tác dụng của một chỉ dẫn sân khấu, nhận xét về xung đột hay tiếng cười. Câu trả lời tốt luôn có ba phần: một chi tiết trong văn bản, thủ pháp làm nó buồn cười, và thói tật bị phê phán. Ba câu hỏi ở trên giúp bạn tìm đủ ba phần ấy thay vì chép lại định nghĩa.
Bẫy hay gặp
Có đoạn gây cười chưa chắc đã là hài kịch, và hài kịch cũng không phải chuỗi câu đùa. Tiếng cười hài kịch luôn có đối tượng : một thói tật đi chệch chuẩn mực. Nếu không gọi được tên thói tật thì chưa đọc ra tiếng cười trào phúng.
Một vở kịch có nhiều cảnh gây cười, nhưng nhân vật chính chết ở cảnh cuối vì khát vọng không thành. Có nên gọi đó là hài kịch không?
Gợi ý 1 · Xem tình huống
Sách nói tình huống hài kịch có thể trớ trêu, dở khóc dở cười, nhưng không bi đát và được giải quyết tốt đẹp.
Gợi ý 2 · Xem kết thúc
Kết thúc bằng cái chết hay thất bại của nhân vật có khát vọng lớn là dấu hiệu sách gắn với bi kịch (Hình 5).
Kết luận
Không nên gọi là hài kịch chỉ vì có cảnh gây cười. Xung đột chính và kết thúc mới quyết định thể loại; các cảnh cười khi ấy chỉ là yếu tố hài trong một vở có màu bi.
02
Phóng đại
Máy Phóng đại: xa đời thường mà vẫn còn neo
Nhân vật hài kịch thường được dựng quanh một thói tật , và thói tật ấy được phóng đại để người xem thấy rõ. Nhưng phóng đại không phải càng xa càng tốt. Máy dưới đây lấy ba thói tật quen thuộc: keo kiệt (Ông Khư), sĩ diện (Bà Sĩ), nịnh trên (Ông Dạ). Mỗi thói có chín hành động do LUKATO tự viết, xếp theo mức phóng đại p từ 0 (ai cũng làm thế) đến 8 (hoang đường). Với mỗi hành động, máy đếm neo đời thường n : số chi tiết đời thường cụ thể (đồ vật, nơi chốn, việc hằng ngày) đã đánh dấu sẵn, tối đa 3. Chỉ số cười là p nhân n, tối đa 24. Máy xếp bốn loại: tả thực khi p không quá 1; phi lí lạnh khi không còn neo nào; phóng đại lỏng khi chỉ còn 1 neo; phóng đại trúng khi còn từ 2 neo trở lên. Thử ba việc: với thói keo kiệt, kéo lên mức 5 để thấy đỉnh 15; kéo tiếp lên 8 để thấy chỉ số rơi về 0 vì không còn chi tiết đời thường nào; bật công tắc Bỏ neo đời thường để thấy cả đường cong nằm sát đáy.
Hình 2. Trái: số liệu thật của Lab 1 cho thói keo kiệt, chỉ số cười lên đỉnh ở mức 5 rồi rơi; dải màu là bốn loại theo mô hình LUKATO. Phải: cách hài kịch dựng nhân vật quanh một thói tật.
Phòng thí nghiệm 1 · Máy Phóng đại LAB 1
Mức phóng đại p
Bỏ neo đời thường
Thói tật
Mức phóng đại
Neo đời thường
Chỉ số cười
Máy xếp
Đỉnh khi giữ neo
Ba thói tật trên cùng một thang
Thói tật · Đỉnh (mức, chỉ số) · Số mức phóng đại trúng · Mức 8
Keo kiệt (Ông Khư) · mức 5, chỉ số 15: ngồi trong bóng tối cho đỡ tiền điện · 5 mức (từ 2 đến 6) · bán cái bóng cho mặt trời: phi lí lạnh, 0
Sĩ diện (Bà Sĩ) · mức 4, chỉ số 12: vay tiền mua quà biếu, nhà mình ăn cháo · 4 mức (từ 2 đến 5) · đòi mặt trăng đổi tên: phi lí lạnh, 0
Nịnh trên (Ông Dạ) · mức 6, chỉ số 18: dời giờ ăn trưa cả phòng theo giờ sếp đói · 6 mức (từ 2 đến 7) · thêm tháng thứ mười ba mang tên sếp: phi lí lạnh, 0
Quy tắc chốt: phóng đại trúng là phóng đại xa mà vẫn còn neo . Trên cả ba thói tật, chỉ số cười lên đỉnh ở giữa thang (mức 5, 4, 6) chứ không ở mức 8; ở mức 8 không còn chi tiết đời thường nào nên chỉ số về 0.
Vì sao phải còn neo đời thường
Tiếng cười trào phúng cần người xem nhận ra thói tật có thật quanh mình, thậm chí trong mình. Sách cũng nói tình huống hài hước diễn ra trong sinh hoạt đời thường. Khi phóng đại thành chuyện hoang đường, người xem chỉ thấy lạ chứ không thấy ai cả, nên tiếng cười mất mũi nhọn phê phán. Trong Lão hà tiện của Mô-li-e, đoạn trích ở hai bộ sách (Tiền bạc và tình ái, Tiền tội nghiệp của tôi ơi), đối tượng của tiếng cười là thói keo kiệt, đặt đồng tiền lên trên hết: một thói tật ai cũng gặp ngoài đời.
Khi nào thang phóng đại cần thận trọng
Ba điều. Một, mức phóng đại, các neo và công thức p nhân n là mô hình dạy học của LUKATO, không phải định nghĩa của sách. Hai, có vở dùng yếu tố kì ảo một cách có chủ ý; khi đó neo nằm ở chỗ khác, như tâm lí hay quan hệ giữa các nhân vật. Ba, đếm neo chỉ đo được độ nhận ra, không đo được nhịp diễn hay tài của diễn viên.
Một bạn muốn thêm vào vở cảnh Bà Sĩ đòi mặt trăng đổi tên cho xứng với bà, vì nghĩ cảnh ấy phóng đại nhất nên buồn cười nhất. Lab 1 nói gì?
Gợi ý 1 · Tìm mức
Đó là mức 8 của thói sĩ diện; cảnh không còn chi tiết đời thường nào, neo bằng 0.
Gợi ý 2 · So với đỉnh
Đỉnh của thói sĩ diện ở mức 4: vay tiền mua giỏ quà biếu nhà thông gia, nhà mình ăn cháo cả tuần, đủ 3 neo, chỉ số 12.
Kết luận
Cảnh mặt trăng bị máy xếp phi lí lạnh, chỉ số 0. Cảnh giỏ quà buồn cười hơn vì người xem nhận ra ngay thói sĩ diện ngoài đời; phóng đại xa nhất không phải phóng đại trúng nhất.
03
Hiểu lầm
Máy Hiểu lầm: ai hiểu sai, khán giả biết gì
Thủ pháp thứ hai sách nêu là tạo tình huống hiểu lầm hài hước. Muốn chỉ ra tiếng cười của một cảnh hiểu lầm, hãy hỏi ba câu: ai đang hiểu sai, khán giả có biết sự thật không, và nhân vật có hành động theo điều hiểu sai không. Máy dưới đây chạy một cảnh tám lượt thoại do LUKATO tự viết, tên là Người ghi số điện. Vợ chồng ông Bổng đang chờ người yêu nhà giàu của con gái là Hân thì Tèo, thợ ghi số điện, đẩy cổng bước vào. Cả nhà tưởng Tèo là chàng rể; Tèo lại tưởng cả nhà niềm nở để được ghi bớt số điện. Lưới màu cho biết sau mỗi lượt ai hiểu đúng , ai hiểu sai ; chấm vàng là nhân vật hành động theo điều hiểu sai ngay trong lượt ấy. Máy chỉ đếm một chấm cười trớ trêu khi khán giả đã biết sự thật; ở cài đặt mặc định khán giả biết từ lượt 2 nhờ chỉ dẫn Tèo cầm cuốn sổ ghi số điện. Thử ba việc: kéo đến lượt 7 để thấy 3 chấm vàng và cộng dồn 8; tắt công tắc Khán giả biết trước để thấy cộng dồn về 0; bật Gỡ nút sớm (Hân về ngay ở lượt 4) để thấy cả cảnh chỉ còn 1 chấm.
Hình 3. Trái: hai tầng hiểu biết của cảnh do LUKATO viết trong Lab 2. Phải: số chấm cười trớ trêu thật của Lab 2 ở cài đặt mặc định; tổng là 8, cao nhất ở lượt 7.
Phòng thí nghiệm 2 · Máy Hiểu lầm LAB 2
Lượt thoại đã đọc
Khán giả biết trước Gỡ nút sớm
Lượt
Ai đang hiểu sai
Khán giả
Cười lượt này
Cộng dồn
Lượt gỡ nút
Toàn văn cảnh Người ghi số điện (LUKATO tự viết)
Lượt · Lời và chỉ dẫn sân khấu · Ai hiểu sai sau lượt · Chấm cười
1 · BÀ BỔNG (lau bàn lần thứ ba, nói vọng vào nhà trong) : Ông ơi, con Hân dặn trưa nay người yêu nó đến. Nghe đâu nhà cậu ấy có ba cái xưởng. · không ai · 0
2 · TÈO (đẩy cổng, tay cầm cuốn sổ ghi số điện) : Cháu chào hai bác. Cháu đến xem cái đồng hồ ạ. · Ông Bổng, Bà Bổng · 0
3 · ÔNG BỔNG (chạy ra, cài vội cúc áo) : Cậu vào nhà, vào nhà! Bà ơi, pha ấm trà ngon nhất! · Ông Bổng, Bà Bổng, Tèo · 1
4 · TÈO (nói riêng, liếc cuốn sổ) : Lại một nhà muốn mình ghi bớt số đây. Phải giữ mình. · Ông Bổng, Bà Bổng, Tèo · 1
5 · BÀ BỔNG (bưng đĩa bánh đầy ắp; ông Bổng gật gù phụ họa) : Nhà bác chẳng có gì đâu, chỉ ba gian nhà, hai mảnh vườn với một cuốn sổ tiết kiệm. · Ông Bổng, Bà Bổng, Tèo · 2
6 · TÈO (đứng bật dậy, giữ chặt cuốn sổ) : Bác đừng nói nữa! Đồng hồ chỉ bao nhiêu, cháu ghi đúng bấy nhiêu! · Ông Bổng, Bà Bổng, Tèo · 1
7 · ÔNG BỔNG (nói riêng, gật gù; bà Bổng lén nhét thêm bánh vào túi Tèo; Tèo lùi dần ra cửa) : Thẳng thắn, chẳng ham của. Đúng là con nhà có xưởng! · Ông Bổng, Bà Bổng, Tèo · 3
8 · HÂN (về đến cổng, dắt theo một chàng trai) : Bố mẹ ơi, đây là anh Tùng. Ơ, anh ghi số điện cũng ở đây à? · không ai · 0
Quy tắc chốt: tiếng cười hiểu lầm đến từ khoảng cách hiểu biết : khán giả biết, nhân vật không biết, mà nhân vật vẫn hành động. Ở cài đặt mặc định, chấm cười của bảy lượt đầu là 0, 0, 1, 1, 2, 1, 3: nút càng thắt, chấm càng dày, và đạt đỉnh 3 ở lượt 7, ngay trước lượt gỡ nút; cả cảnh có 8 chấm.
Vì sao khán giả phải biết trước
Khi biết sự thật, khán giả nhìn nhân vật tự đẩy mình vào chỗ lố: ông Bổng khen Tèo không ham của mà đúng là con nhà có xưởng, trong khi Tèo chỉ sợ bị mua chuộc. Nếu khán giả cũng bị lừa thì chỉ còn một cú bất ngờ ở cuối, không có chuỗi cười trớ trêu. Quan thanh tra của Gô-gôn, vở được cả ba bộ sách trích, dựng cả vở trên một hiểu lầm như vậy: đám quan chức một thành phố nhỏ tưởng anh chàng đang trọ ở quán trọ là quan thanh tra vi hành.
Khi nào máy Hiểu lầm cần thận trọng
Ba điều. Một, cách chấm (đếm người hành động theo điều hiểu sai, chỉ khi khán giả đã biết) là mô hình của LUKATO, không phải công thức của sách. Hai, cảnh mẫu có ba nhân vật cùng hiểu sai; nhiều cảnh hiểu lầm chỉ có một người hiểu sai mà vẫn rất buồn cười. Ba, tác giả có thể cố ý giấu sự thật để tạo bất ngờ; đó là một lựa chọn khác, không phải lỗi.
Trong Lab 2, lượt 3 và lượt 7 đều có 3 người hiểu sai. Vì sao lượt 7 có 3 chấm cười còn lượt 3 chỉ có 1?