NGỮ VĂN 12 · NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC, PHONG CÁCH, CHẤT THƠ, CHỨC NĂNG VĂN HỌC — Một văn bản, hai mặt: ba lớp hình thức, ba phép thử phong cách và con đường hình tượng
Bài khái niệm Ngữ văn 12 (lí luận văn học): nội dung quyết định, hình thức tác động trở lại; ba lớp hình thức; khi nào một nét viết là phong cách; chất thơ…
NGỮ VĂN 12 · LÍ LUẬN VĂN HỌC · LUKATO AI · BÀI KHÁI NIỆM
Một văn bản, hai mặt: nội dung, hình thức, phong cách và chức năng của văn học
Nội dung và hình thức quan hệ với nhau thế nào? Khi nào một nét viết được gọi là phong cách? Chất thơ trong văn xuôi nằm ở đâu? Văn học làm những việc gì cho người đọc?
Bài này không phân tích một tác phẩm cụ thể và không luyện đề. Nó dựng hệ thống khái niệm: nội dung và hình thức là hai mặt của một chỉnh thể, trong đó nội dung quyết định còn hình thức tác động trở lại; hình thức có ba lớp (ngôn từ, kết cấu, thể loại); phong cách là nét riêng vừa độc đáo vừa ổn định và xuyên suốt cả nội dung lẫn hình thức; chất thơ trong văn xuôi là sự mượn các đặc điểm của loại trữ tình ở cả hai mặt; và ba chức năng nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ đi chung một con đường hình tượng. Các khái niệm được đối chiếu với tài liệu tham khảo (xem chân trang); mọi đoạn văn và số liệu trong phòng thí nghiệm là ví dụ tự soạn.
6 SƠ ĐỒ TỰ DỰNG 2 PHÒNG THÍ NGHIỆM THUẦN KHÁI NIỆM 8 CÂU TRẮC NGHIỆM TỰ SOẠN
Về nguồn và ví dụ. Cặp phạm trù nội dung – hình thức được đối chiếu với hai trang triết học (triethoc.info, accgroup.vn) và bài soạn sách giáo khoa Ngữ văn 10; ba lớp của hình thức với hoatieu.vn; phong cách với luatminhkhue.vn, Nguyễn Huy Phòng (2014) và Đỗ Lai Thúy (VnExpress); câu của Buffon với lex.dk và Wikipedia; chất thơ trong văn xuôi với Lê Thị Minh Hiền (2018) và Nguyễn Thị Quỳnh Như (2018); chức năng văn học với Lê Thị Gấm (2015) và đề cương Lí luận văn học của Đại học Cần Thơ. Câu chuyện ông Tám, các đoạn văn và con số trong phòng thí nghiệm đều là văn bản tự soạn hư cấu ; số tiếng, số câu do chương trình đếm ngay khi em bấm.
MỤC 1 · HAI MẶT CỦA MỘT CHỈNH THỂ
Nội dung quyết định hình thức, hình thức tác động trở lại: hai mặt của một văn bản, không phải hai khối ghép lại
Khi đọc một câu thơ, ta không đọc “ý” trước rồi “chữ” sau. Ta gặp một chỉnh thể, rồi mới tách nó ra bằng khái niệm để nói cho rõ. Hai khái niệm tách ấy là nội dung và hình thức; câu hỏi của bài là chúng quan hệ với nhau thế nào.
1.1 Từ triết học sang văn học
Trong triết học, nội dung là tổng hợp các mặt, các yếu tố và quá trình tạo nên sự vật; hình thức là phương thức tồn tại và phát triển của sự vật. Nội dung giữ vai trò quyết định; hình thức có tính độc lập tương đối nên tác động trở lại nội dung: hình thức phù hợp thì thúc đẩy nội dung phát triển, không phù hợp thì kìm hãm (triethoc.info; accgroup.vn). Hegel còn nhận xét rằng nội dung không vô hình thức mà có hình thức ngay trong nó ( Bách khoa thư các khoa học triết học , §133).
Sang văn học, cách chia quen dùng trong giáo trình là: nội dung gồm đề tài, chủ đề, tư tưởng và cảm hứng nghệ thuật (các khái niệm này đã có bài riêng nên ở đây chỉ coi chúng là mặt nội dung); hình thức gồm ngôn từ, kết cấu và thể loại. Điều đáng nhớ nhất là câu này của bài soạn sách giáo khoa: nội dung chỉ tồn tại trong một hình thức nhất định, và bất kì hình thức nào cũng mang một nội dung.
Vuốt ngang để xem hết sơ đồ
Hình 1. Hai mặt của một văn bản: nội dung quyết định, hình thức tác động trở lại; ba kiểu quan hệ nảy sinh từ đó.
Điều rút ra. Không có “hình thức thuần túy” và cũng không có “nội dung trần” đứng sẵn ngoài hình thức. Vì vậy ta không thể thay hình thức mà giữ nguyên mọi thứ khác: khi hình thức đổi, thứ người đọc nhận được cũng đổi. Phòng A ở mục 3 cho em thấy điều đó bằng cách đếm được.
1.2 Ba kiểu quan hệ
PHÙ HỢP Hình thức khớp nội dung nên làm nội dung rõ hơn, mạnh hơn.
LỆCH PHA Hình thức không khớp nên làm nội dung mờ đi, khó tới người đọc.
ĐỔI THEO Nội dung đổi (đề tài, cảm hứng, thời đại) thì hình thức phải đổi để còn phù hợp.
Chú ý chữ “khớp”. Câu dài hay ngắn, vần hay không vần đều chưa tốt hay dở tự thân; chúng chỉ tốt hay dở trong quan hệ với cái được nói. Cũng vì vậy, tiêu chí đánh giá một hình thức là nó phục vụ nội dung ra sao, không phải nó lạ hay đẹp đến đâu.
một người viết muốn kể một cuộc chia tay lặng lẽ nhưng lại dồn câu cảm thán liên tiếp. Nội dung và hình thức đang ở kiểu quan hệ nào, và điều gì bị kìm hãm?
Giải thích. Lệch pha. Nội dung là sự lặng lẽ; hình thức dồn dập kéo người đọc về phía kích động nên sắc thái ấy mờ đi. Hình thức không “sai” tự thân (cùng loại câu ấy có thể rất hợp với một cơn giận); nó chỉ không khớp với cái được nói ở đây.
MỤC 2 · BA LỚP CỦA HÌNH THỨC
Ngôn từ, kết cấu, thể loại: ba câu hỏi khác nhau cho cùng một văn bản
Nói “hình thức” chung chung dễ lẫn. Giáo trình tách hình thức thành ba lớp, và mỗi lớp trả lời một câu hỏi riêng (hoatieu.vn; bài soạn Ngữ văn 10). Tách như vậy để khi nhận xét một văn bản, em biết mình đang nói về lớp nào.
2.1 Ba lớp, ba câu hỏi
Vuốt ngang để xem hết sơ đồ
Hình 2. Ba lớp của hình thức, mỗi lớp trả lời một câu hỏi và hiện ra ở những chỗ khác nhau.
Ngôn từ là chất liệu xây dựng hình tượng; nó chỉ là một phương diện của hình thức nghệ thuật chứ không phải toàn bộ hình thức. Đổi một từ ngữ chưa chắc đã đổi kết cấu hay thể loại.
Kết cấu là cách sắp xếp các bộ phận thành một chỉnh thể: có thể theo thời gian, theo không gian, theo dòng suy nghĩ, theo kiểu đầu và cuối tương ứng nhau.
Thể loại là bộ quy tắc tổ chức văn bản. Ở cấp lớn có ba loại: tự sự, trữ tình và kịch; Hegel gắn chúng với ba trọng tâm là sự kiện, tâm trạng của chủ thể và hành động (Nguyễn Việt Hương, 2002). Ở cấp nhỏ hơn là các thể như thơ, truyện, kí. Bài này chỉ dùng ba loại ở mức gọi tên.
Điều rút ra. Ba lớp không đứng riêng rẽ: kết cấu dựng bằng ngôn từ, và thể loại đặt khung cho cả hai. Đổi một lớp thường kéo theo lớp khác và kéo theo cả cái người đọc nhận được. Mục sau cho em đổi riêng lớp kết cấu để thấy.
MỤC 3 · KẾT CẤU
Cùng một bộ sự việc, đặt lên trang theo thứ tự khác thì người đọc gặp một câu chuyện khác
Kết cấu dễ bị coi là “khung xương” khô khan. Thật ra nó quyết định người đọc gặp điều gì trước, điều gì sau, nên quyết định cả cái họ chú ý. Cách nhanh nhất để thấy điều này là giữ nguyên các sự việc rồi chỉ đổi cách đặt chúng lên trang.
3.1 Thứ tự trong đời và thứ tự trên trang
Có hai thứ tự cần phân biệt: thứ tự các sự việc xảy ra trong đời, và thứ tự người kể đặt chúng lên trang. Hai thứ tự ấy có thể trùng nhau (kể theo trình tự thời gian) hoặc không (kể kết cục trước, kể theo dòng nhớ và nghĩ). Một số kiểu hay gặp khi phân tích: theo thời gian, theo không gian, theo dòng suy nghĩ, theo kiểu đầu và cuối tương ứng. Đây là cách gọi quen dùng chứ không phải danh sách đầy đủ.
Vuốt ngang để xem hết sơ đồ
Hình 3. Năm sự việc F1–F5 (hư cấu) đặt lên trang theo bốn cách; đường nối cho thấy sự việc nào đứng ở đâu.
Điều rút ra. Số sự việc không đổi, nhưng vị trí của chúng đổi, và người kể có thể thêm “ô” không phải sự việc: câu nối, câu nghĩ, hình ảnh lặp lại. Những ô ấy là của cách kể chứ không phải của câu chuyện. Em sẽ đếm chúng ngay trong phòng sau.
PHÒNG A Cùng năm sự việc, đổi hình thức
Câu chuyện ngắn về ông Tám và chiếc thuyền gồm đúng năm sự việc F1–F5 hư cấu . Chọn một cách đặt lên trang (kết cấu) và một giọng kể (ngôn từ). Phòng ghép đoạn văn từ các câu có sẵn rồi đếm tiếng, câu và vị trí các sự việc; phần “Cách đọc” là nhận xét của người soạn, không phải phép đo.
Thứ tự kể
Giọng và ngôn từ
Vuốt ngang để xem hết biểu đồ
trong Phòng A, giữ giọng “Kể gọn” và chuyển từ “Theo trình tự thời gian” sang “Kết trước”. Số sự việc có đổi không? Điều gì đổi?
Giải thích. Số sự việc vẫn là 5, nhưng cả 5 sự việc đổi chỗ so với trình tự thời gian, và văn bản có thêm một câu nối. Điều đổi là cách người đọc gặp câu chuyện: biết trước ông Tám cười, họ đọc các sự việc sau như con đường dẫn tới nụ cười ấy, nên câu hỏi chuyển từ “chuyện gì sẽ xảy ra” sang “vì sao ông cười”. Cùng một nội dung sự việc, nhưng thứ người đọc nhận được đã khác: đây chính là hình thức tác động trở lại.
MỤC 4 · PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT
Một nét viết chỉ thành phong cách khi nó độc đáo, ổn định và gắn với nội dung; cú lạ một lần thì chưa phải
“Phong cách” là từ dễ dùng nhất và khó dùng đúng nhất. Em không nên dùng nó cho mọi cách viết nghe lạ tai. Mục này dựng điều kiện để một nét viết được gọi là phong cách, rồi cho em tự thử.
4.1 Phong cách là gì
Phong cách nghệ thuật là diện mạo thẩm mĩ riêng của nhà văn. Nó độc đáo , ổn định (lặp lại có hệ thống chứ không ngẫu nhiên), gắn với thời đại và gắn với cách nhìn riêng về cuộc sống (luatminhkhue.vn). Các nhà nghiên cứu còn nhấn vào chỗ nó là sự thống nhất của nội dung và hình thức: Tôn Thảo Miên (2006) hiểu phong cách là sự thống nhất trọn vẹn của nội dung và hình thức tạo nên nét riêng độc đáo, và Lại Nguyên Ân (2004) gọi nó là nguyên tắc xuyên suốt kiến trúc tác phẩm (cả hai dẫn theo Nguyễn Huy Phòng, 2014).
Câu của Buffon, đọc ở Viện Hàn lâm Pháp ngày 25/8/1753, thường được dịch là “phong cách chính là con người” ( Le style est l’homme même ); nghĩa của nó còn được hiểu theo nhiều cách (lex.dk; Wikipedia), nên ở đây chỉ coi nó là cách nói nổi tiếng về chuyện phong cách gắn với người viết.
4.2 “Độc đáo” là độc đáo so với cái gì
Đỗ Lai Thúy cho rằng mỗi thời đại và thể loại có một cái chuẩn chung, còn phong cách cá nhân là độ lệch so với chuẩn ấy; vì vậy muốn nói một nét là riêng phải đối chiếu với nền chung (VnExpress). Đây là một quan điểm có tên người, em dùng như công cụ chứ đừng coi là định nghĩa duy nhất. Từ các điều kiện nêu trên, bài này hệ thống thành ba phép thử: độc đáo (lệch khỏi nền chung), ổn định (lặp lại có hệ thống) và xuyên suốt (đi cùng một mảng nội dung chứ không rơi rớt một mình).
Vuốt ngang để xem hết sơ đồ
Hình 4. Hai trục độc đáo – ổn định chia bốn vùng; chỉ vùng “lệch nền và lặp lại” mới có thể là phong cách, rồi còn phép thử thứ ba.
Điều rút ra. Ba phép thử là cách hệ thống hóa của bài này, bám theo các điều kiện nêu ở 4.1; giáo trình không đóng khung chúng thành một bảng như vậy. Phép thử thứ ba được rút gọn trong Phòng B thành “nét hình thức đi cùng một đề tài lặp lại”; thực tế, nội dung xuyên suốt có thể là một cách nhìn chứ không chỉ là đề tài.
PHÒNG B Ba phép thử phong cách
Năm người viết giả định X, Y, Z, W, V, mỗi người có bốn đoạn văn ngắn, cùng một “nền chung” gồm tám đoạn của nhiều người khác hư cấu . Chọn nét hình thức để đo và hai ngưỡng. Chương trình đếm tiếng và câu của từng đoạn, tính giá trị trung bình và độ lệch chuẩn rồi đưa ra kết luận theo ba phép thử. Nhãn đề tài của mỗi đoạn do người soạn gán tay; mọi số khác do chương trình tính.
Nét hình thức được đo
Độc đáo nếu lệch nền từ 4
Ổn định nếu độ lệch chuẩn tối đa 3
Vuốt ngang để xem hết biểu đồ
Xem các đoạn văn của
với các giá trị mặc định của Phòng B, Z và V đều lệch khỏi nền chung. Vì sao hai người ấy chưa phải “có phong cách” trong khi X thì phải?
Giải thích. Z qua được phép thử độc đáo nhưng trượt phép thử ổn định: ba đoạn nằm sát nền chung và một đoạn là câu cực dài, nên độ lệch chuẩn rất lớn; đó là cú lạ một lần. V qua hai phép thử đầu (câu dài đều đặn, lệch xa nền) nhưng bốn đoạn thuộc bốn đề tài khác nhau, nên theo cách rút gọn của phòng này nét hình thức chưa đi cùng nội dung nào: mới là lối viết lặp lại. Chỉ X qua cả ba phép thử: lệch nền, lặp đều, và luôn gắn với bến sông. Đổi nét đo sang “tỉ lệ câu ngắn” rồi xem lại: kết luận đổi theo nét được chọn, nên “phong cách” không thể nói mà không nói đã đo nét nào.
MỤC 5 · CHẤT THƠ TRONG VĂN XUÔI
Chất thơ là văn xuôi tự sự mượn các đặc điểm của loại trữ tình, ở cả nội dung lẫn hình thức
Nhiều người nghe “chất thơ” liền nghĩ tới vần, tới chữ hoa mĩ. Các bài nghiên cứu về truyện ngắn trữ tình hóa nói điều khác: chất thơ nằm ở cách nhìn, ở những thành phần cùng làm việc, và nó có cả mặt nội dung lẫn mặt hình thức.
5.1 Từ tự sự đến trữ tình
Tự sự coi trọng sự kiện và cốt truyện; trữ tình coi trọng tâm trạng của chủ thể (mức gọi tên theo Hegel, Nguyễn Việt Hương, 2002). Văn xuôi có chất thơ đứng giữa: vẫn kể, nhưng sự kiện nội tâm đứng cạnh sự kiện bên ngoài. Về nội dung, chất thơ hiện ra ở bức tranh thiên nhiên giàu chất hội họa, vẻ đẹp và lí tưởng của con người, cảm xúc và tâm trạng nhân vật; về hình thức, ở hình ảnh, biểu tượng và chi tiết giàu sức gợi, ngôn từ hàm súc, câu văn du dương giàu nhạc tính (Đỗ Lai Thúy, 2012, dẫn theo Lê Thị Minh Hiền, 2018).
Vuốt ngang để xem hết sơ đồ
Hình 5. Văn xuôi có chất thơ nằm giữa tự sự và trữ tình; bốn đặc điểm của truyện ngắn trữ tình hóa, và hai mặt của cùng một chất thơ.