Ngữ văn 10: Văn học trung đại đọc bằng Khuôn, Giọng, Chữ, máy kiểm luật thơ Đường, chọn thể chiếu, hịch, cáo, phú, văn tế, dòng chảy Hán và Nôm
Chuyên đề Ngữ văn 10 cho kì thi THPT: thay vì học thuộc từng tác phẩm trung đại, ta đọc mỗi tác phẩm bằng ba câu hỏi: Chữ (Hán hay Nôm), Khuôn (thể loại và…
LUKATO AI · NGỮ VĂN 10 · VĂN HỌC TRUNG ĐẠI
KHUÔN · GIỌNG · CHỮ
Văn học trung đại
đọc bằng
Khuôn, Giọng, Chữ
Từ Nam quốc sơn hà, Hịch tướng sĩ, Bình Ngô đại cáo đến Truyện Kiều, mỗi tác phẩm trung đại là một giọng riêng rót vào một khuôn có sẵn, viết bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm. Chuyên đề này dạy ba câu hỏi Chữ, Khuôn, Giọng, kèm ba phòng thí nghiệm: máy kiểm luật thơ Đường, chọn thể văn đúng việc và dòng chảy Hán, Nôm qua các thế kỉ. Mọi kết quả trong phòng lab được kiểm bằng code.
- 1. Máy kiểm luật thơ Đường luật: bằng trắc, niêm, đối thanh và vần, gõ thử bài thơ của chính em
- 2. Chọn khuôn đúng việc: chiếu, hịch, cáo, văn tế, phú, ngâm khúc khác nhau ở ai nói với ai để làm gì
- 3. Dòng chảy Hán và Nôm qua các thế kỉ, cùng ba giọng Quốc, Người, Đời
phòng thí nghiệm tương tác
bí kíp có chỗ vỡ
hiểu lầm được phản biện
01
Khái niệm lõi
Văn học trung đại là rót giọng riêng vào khuôn có sẵn
Văn học trung đại Việt Nam kéo dài từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX, với rất nhiều tác giả, thể loại và văn bản. Học theo kiểu liệt kê (tác giả nào, năm nào, thể gì) rất dễ quên và không giúp gì khi đề cho một văn bản chưa học. Chuyên đề này đưa một cách đọc dùng cho cả văn bản đã học lẫn văn bản lạ: hỏi ba câu. Chữ : viết bằng chữ Hán hay chữ Nôm? Khuôn : thuộc thể loại nào và luật của thể ấy ra sao? Giọng : tác giả rót vào khuôn điều gì, Quốc, Người hay Đời? Ý chính là văn học trung đại là nghệ thuật rót giọng riêng vào khuôn có sẵn : khuôn do truyền thống đặt, còn chỗ khiến một tác phẩm sống lâu nằm ở giọng đi qua khuôn.
Bên trái: ba câu hỏi dùng cho mọi tác phẩm. Bên phải: ba giọng, dùng làm trục đọc trong Lab 3. Mỗi tác phẩm lớn thường mang nhiều giọng, bảng chỉ ghi giọng nổi bật nhất.
CHỮ
Viết bằng gì, cho ai đọc?
Hán văn dành cho triều đình, khoa cử và những văn bản trang trọng. Chữ Nôm ghi tiếng Việt nên đưa lời ăn tiếng nói của người Việt vào văn chương.
KHUÔN
Thể nào, luật nào, để làm gì?
Mỗi thể có luật hình thức riêng và một việc riêng. Chiếu để ban lệnh, hịch để gọi quân, thơ Đường luật có luật bằng trắc, niêm, đối, vần.
GIỌNG
Tác giả muốn nói điều gì?
Quốc là ý thức dân tộc và độc lập, Người là nhân đạo và cái tôi, Đời là thế sự. Đây là chỗ tác giả đặt dấu ấn riêng.
RÓT
Giọng đi qua khuôn
Hai tác phẩm cùng một khuôn vẫn khác nhau ở giọng; cùng một giọng có thể nằm trong những khuôn rất khác nhau.
Sáu tác phẩm, ba câu trả lời
Tác phẩm · Chữ · Khuôn · Giọng nổi bật
Nam quốc sơn hà · Hán văn · Thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật · Quốc
Bình Ngô đại cáo · Hán văn · Cáo, văn nghị luận biền ngẫu · Quốc
Quốc âm thi tập · Chữ Nôm · Thơ Nôm theo Đường luật · Người
Truyền kì mạn lục · Hán văn · Truyền kì, văn xuôi có yếu tố kì ảo · Đời
Truyện Kiều · Chữ Nôm · Truyện thơ lục bát · Người
Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc · Chữ Nôm · Văn tế viết theo thể phú Đường luật · Quốc
Cách dùng bảng: gặp một văn bản trung đại, điền ba cột này trước rồi mới viết cảm nghĩ. Chữ thường nhìn là thấy, Khuôn nhìn qua số chữ, số câu, cách mở đầu, còn Giọng cần dẫn chứng từ nội dung.
Vì sao đọc bằng ba câu hỏi
Văn học trung đại có tính quy phạm cao: tác giả viết trong những khuôn đã định, nên điểm riêng của tác giả thường nằm ở chỗ giọng đi qua khuôn chứ không ở việc phá khuôn. Ba câu hỏi cho bạn một trật tự để viết bài, và cho phép so sánh hai tác phẩm bằng những thứ kiểm tra được thay vì cảm nhận chung chung. Đây là cách đọc của LUKATO, không phải khuôn của sách giáo khoa.
Khi nào ba câu hỏi chưa đủ
Ba câu hỏi không thay cho việc đọc kĩ. Giọng ở đây chỉ là giọng nổi bật nhất; một tác phẩm lớn như Truyện Kiều còn mang cả giọng Đời. Các bộ sách giáo khoa chọn văn bản khác nhau, nên bài học dùng thêm ngữ liệu công cộng (như Qua Đèo Ngang, Nam quốc sơn hà) và bài mẫu LUKATO tự viết thay vì chép nguyên văn từ sách.
Bình Ngô đại cáo và Truyền kì mạn lục đều viết bằng Hán văn, vì sao vẫn đọc rất khác nhau?
Gợi ý 1 · Nhìn Khuôn
Bình Ngô đại cáo là cáo, một thể nghị luận để công bố với cả nước. Truyền kì mạn lục là truyền kì, văn xuôi tự sự có yếu tố kì ảo.
Gợi ý 2 · Nhìn Giọng
Một bên nói giọng Quốc: chính nghĩa, độc lập, chiến thắng. Bên kia nói giọng Đời: số phận con người và thế sự, mượn chuyện kì ảo.
Kết luận
Cùng Chữ nhưng khác Khuôn và khác Giọng. Chữ chỉ trả lời "viết bằng gì", không quyết định "đọc thế nào".
02
Khuôn thơ
Máy kiểm luật thơ Đường: bằng trắc, niêm, đối, vần
Thơ Đường luật là khuôn khắt khe nhất của văn học trung đại và cũng là khuôn dễ ra đề nhất: đề đọc hiểu thường hỏi nhận biết thể thơ, luật bằng hay trắc, niêm, đối, vần. Máy dưới đây tách thanh bằng hoặc trắc của từng chữ (bằng là không dấu hoặc huyền, trắc là sắc, hỏi, ngã, nặng) rồi kiểm bốn việc: luật câu (chữ 4 khác chữ 2, chữ 6 giống chữ 2), vị trí chữ 2 theo niêm và đối thanh, thanh chữ 7 , và vần . Mỗi chữ là một ô: xanh nhạt là bằng (B), vàng nhạt là trắc (T). Viền dày là chữ 2, 4, 6; chấm vàng ở góc ô chữ 7 đánh dấu câu phải gieo vần; viền đỏ là chỗ máy thấy sai. Chọn bài bằng bốn nút, kéo thanh trượt để chọn câu đang soi, nút Phát cho máy tự đi hết các câu. Thử ba việc: chọn Qua Đèo Ngang rồi kéo từ câu 1 đến câu 8 để thấy mẫu luật trắc lặp lại; chọn bản có lỗi và tìm ba câu bị đánh dấu trước khi đọc kết quả; gõ vào ô cuối phòng một câu bảy chữ của bạn để máy đọc thanh.
Bên trái: vị trí nào trong câu phải giữ luật, vị trí nào được tự do. Bên phải: bố cục đề, thực, luận, kết. Đối ý ở câu 3 đến 6 là việc của người đọc, máy chỉ kiểm đối thanh.
Phòng thí nghiệm 1 · Máy kiểm luật thơ Đường LAB 1
Câu đang soi
Thử một câu của riêng bạn, đúng 7 chữ
Thể thơ
Luật và vần
Câu đang soi
Kết quả của câu
Niêm và đối thanh
Toàn bài
Bốn bài mẫu
Bài · Thể thơ · Luật · Vần · Điểm cần để ý
Qua Đèo Ngang · Thất ngôn bát cú, chữ Nôm · Luật trắc (chữ 2 câu 1 là trắc) · a: tà, hoa, nhà, gia, ta · Câu 1 cũng gieo vần; hoa vẫn vần với tà dù có thêm âm đệm o
Nam quốc sơn hà · Thất ngôn tứ tuyệt, Hán văn · Luật trắc · ư: cư, thư, hư · Chỉ có bốn câu nên cặp niêm là 2-3 và 4-1
Đêm ôn bài (bản đúng) · Thất ngôn bát cú, quốc ngữ · Luật bằng (chữ 2 câu 1 là bằng) · ân: chân, xuân, thân, gần · Câu 1 không gieo vần (chữ 7 là trắc), vẫn hợp lệ
Đêm ôn bài (bản có lỗi) · Bản sửa của bài trên · Luật bằng · ân, trừ câu 6 · Câu 3 thất luật; câu 5 lệch chữ 2 làm hỏng cặp niêm 4-5 và cặp đối thanh 5-6; câu 6 sai vần (tâm không vần với ân)
Câu thần chú và giới hạn của nó: "nhất tam ngũ bất luận, nhị tứ lục phân minh" nghĩa là chữ 1, 3, 5 tạm thời tự do còn chữ 2, 4, 6 phải rõ bằng trắc. Đủ dùng khi làm đề phổ thông, nhưng luật Đường thật còn những kị tinh vi hơn mà máy này không kiểm.
Vì sao có luật bằng trắc
Bằng và trắc thay phiên nhau để câu thơ có nhịp lên xuống thay vì đều đều. Niêm làm cho câu sau "dính" vào câu trước, đối thanh làm hai câu đi cặp ngược nhau, còn vần buộc cả bài về một âm cuối. Nhờ vậy cả bài thành một khối nhạc điệu nhất quán, và người đọc có thể kiểm tra một bài bằng quy tắc thay vì bằng tai.
Khi nào máy kiểm luật vỡ
Máy chỉ đọc dấu thanh trong chữ viết nên không phân biệt được chữ đọc khác nhau ở các vùng. Với Nam quốc sơn hà, máy đọc phiên âm Hán – Việt, nơi dấu thanh khá sát cách chia bằng trắc của thơ Đường nhưng không hoàn toàn. Máy cũng không kiểm đối ý (hai câu thực và hai câu luận còn phải đối nhau về ý và từ loại), không kiểm ngắt nhịp, không kiểm vần thông. Nhiều bài thơ hay cố ý phá luật ở một chỗ, nên "thất niêm" không tự động là lỗi của thi sĩ.
Trong bản có lỗi, vì sao một lỗi ở chữ 2 câu 5 lại làm sai cả cặp niêm 4-5 lẫn cặp đối thanh 5-6?
Gợi ý 1 · Số quan hệ của chữ 2
Chữ 2 của câu 5 nằm trong hai quan hệ cùng lúc: niêm với câu 4 (phải cùng thanh) và đối thanh với câu 6 (phải ngược thanh).
Gợi ý 2 · Nhìn thanh thật
Câu 4 có chữ 2 là bằng, câu 5 bị sửa thành trắc nên niêm 4-5 hỏng. Câu 6 có chữ 2 cũng là trắc, trùng với câu 5, nên đối thanh 5-6 hỏng.
Kết luận
Một chữ 2 sai kéo theo hai cặp sai. Khi sửa, hãy tìm câu thủ phạm (câu có chữ 2 lệch so với luật do câu 1 quyết định) thay vì sửa từng cặp.
03
Khuôn văn
Chọn khuôn cho đúng việc: ai nói với ai để làm gì
Mỗi thể văn trung đại là một hợp đồng giao tiếp : ai nói với ai để làm gì. Vì vậy cách nhanh nhất để nhận ra khuôn là hỏi hai điều thay vì đếm đặc điểm hình thức. Phòng này có hai thanh trượt: việc cần làm và người nhận . Cột giữa là sáu khuôn; mỗi việc và mỗi người nhận đều trỏ về một khuôn bằng đường ngang cùng hàng. Khi hai đường dừng ở cùng một khuôn, máy báo khớp ; khi hai đường dừng ở hai khuôn khác nhau, máy báo lệch và chỉ hai cách chữa. Thử ba việc: đặt việc là "kêu gọi chiến đấu" và người nhận là "tướng sĩ, quân lính" để thấy khuôn Hịch khớp; giữ việc đó, kéo người nhận sang "toàn dân, thiên hạ" để thấy hịch lệch với cáo; giữ nguyên người nhận rồi bấm Phát để việc chạy qua cả sáu lựa chọn và đếm xem có mấy lựa chọn khớp.
Bên trái: sáu khuôn của Lab 2 và cặp người nói, người nghe, việc của mỗi khuôn. Bên phải: hai khuôn dễ nhầm nhất, hịch và cáo.
Phòng thí nghiệm 2 · Chọn khuôn cho đúng việc LAB 2
Việc cần làm
Người nhận
Việc cần làm
Người nhận
Khuôn theo việc
Khuôn theo người nhận
Kết quả
Ví dụ chuẩn
Sáu khuôn và dấu hiệu nhận ra
Khuôn · Ai nói với ai · Việc cần làm · Ví dụ · Dấu hiệu nhận biết
Chiếu · Nhà vua nói với thần dân và bề tôi · Ban bố mệnh lệnh, quyết định · Chiếu dời đô · Lý Công Uẩn · năm 1010 · Hán văn · Lời nhà vua ban xuống để thi hành. Chiếu dời đô lập luận từ lịch sử, đối chiếu với thực tế rồi chốt quyết định, và kết bằng một câu hỏi xin ý kiến bề tôi.
Hịch · Người cầm quân nói với tướng sĩ · Khích lệ, thức tỉnh, kêu gọi chiến đấu · Hịch tướng sĩ · Trần Quốc Tuấn · cuối thế kỉ XIII · Hán văn · Lời người cầm quân gọi quân đứng lên trước một cuộc chiến: nêu gương trung nghĩa, vạch thái độ của địch, phê phán lối sống hưởng lạc, rồi nêu nhiệm vụ cụ thể. Giọng lúc nghiêm khắc, lúc tha thiết.
Cáo · Người đứng đầu nói với toàn dân · Tuyên bố chính nghĩa và thành quả · Bình Ngô đại cáo · Nguyễn Trãi · đầu năm 1428 · Hán văn · Lời người đứng đầu công bố với cả nước một sự nghiệp đã xong. Bình Ngô đại cáo là văn nghị luận biền ngẫu: nêu nguyên lí nhân nghĩa, vạch tội giặc, kể cuộc kháng chiến, tuyên bố thắng lợi và hòa bình.
Văn tế · Người sống nói với người đã mất · Tưởng nhớ, tiếc thương · Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc · Nguyễn Đình Chiểu · năm 1861 · chữ Nôm · Lời người sống nói với người đã mất: tiếng than, kể công trạng, bày tỏ đau xót. Bài Cần Giuộc viết theo thể phú Đường luật, có vần và có đối, để đọc trong lễ truy điệu.
Phú · Tác giả nói với người đọc · Tả cảnh, hoài cổ, bàn lẽ hưng vong · Phú sông Bạch Đằng · Trương Hán Siêu · thời Trần · Hán văn · Văn vần có đối, kết hợp tả cảnh, kể sự và bàn luận. Phú sông Bạch Đằng là phú cổ thể, đi qua cuộc đối đáp giữa khách và các bô lão, mang mạch hoài cổ.
Ngâm khúc · Nhân vật trữ tình nói với lòng mình · Giãi bày nỗi lòng · Chinh phụ ngâm (bản Nôm) · Cung oán ngâm khúc · Nguyễn Gia Thiều · chữ Nôm · Thơ trữ tình dài, giọng một nhân vật (người vợ lính, cung nữ) giãi bày nỗi buồn. Viết bằng song thất lục bát, nhịp ngâm chậm.
Khuôn thứ bảy, ngược chiều: biểu là văn thư bề tôi dâng lên vua để trình bày ý kiến hoặc nguyện vọng. Nó đi ngược chiều với chiếu (vua ban xuống), và phòng không đưa vào để giữ bảng gọn. Còn nhiều thể khác (sớ, tựa, bạt, kí) cũng có "hợp đồng" riêng của mình.
Vì sao hỏi "ai nói với ai" trước
Đặc điểm hình thức dễ trùng: hịch, cáo và chiếu đều dùng lập luận, đều có thể biền ngẫu. Ngược lại cặp người nói, người nghe và việc cần làm rất khác nhau giữa các thể, nên đây là dấu hiệu phân biệt bền nhất. Khi đã biết hợp đồng giao tiếp, các đặc điểm hình thức (có kể công trạng, có tiếng than, có hỏi ý kiến) chỉ là hệ quả.
Khi nào bộ chọn khuôn vỡ
Một tác giả có thể pha khuôn: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là văn tế nhưng viết theo thể phú Đường luật, nên có vần và có đối như một bài phú. Bình Ngô đại cáo vừa là cáo vừa mang sức nặng của một bản tuyên ngôn. Phòng này chỉ trả lời "khuôn nào hợp nhất với hợp đồng này", không khẳng định mọi văn bản chỉ có một khuôn.
Vì sao Bình Ngô đại cáo là cáo chứ không phải hịch, dù cả hai đều lập luận hùng hồn và nói về giặc?
Gợi ý 1 · Nhìn thời điểm
Bình Ngô đại cáo ra đời sau chiến thắng quân Minh, đầu năm 1428. Hịch tướng sĩ ra đời trước cuộc kháng chiến chống Mông – Nguyên lần hai.
Gợi ý 2 · Nhìn người nhận và việc