Giáo dục kinh tế và pháp luật 12: Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, hệ thống khái niệm | LUKATO AI
Bài giảng khái niệm Giáo dục kinh tế và pháp luật 12 về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: bốn đối tượng và bốn khía cạnh, mười hai phòng lab, mười bốn bẫy…
LUKATO AI | GIÁO DỤC KINH TẾ VÀ PHÁP LUẬT 12 | TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP
NGƯỜI LAO ĐỘNG - KHÁCH HÀNG - MÔI TRƯỜNG - CỘNG ĐỒNG
Lợi nhuận là câu trả lời
gửi chủ doanh nghiệp.
Bốn bên còn lại đang chờ
một câu trả lời khác
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp rất dễ bị học thành một danh sách khái niệm cần thuộc. Bài giảng này đặt nó vào một khung hai trục. Trục đầu tiên là bốn đối tượng : người lao động, khách hàng, môi trường và cộng đồng. Trục thứ hai là bốn khía cạnh : kinh tế, pháp lí, đạo đức và đóng góp tự nguyện. Gặp một hành động của doanh nghiệp, em hỏi nó đang trả lời cho bên nào, thuộc khía cạnh nào và có bằng chứng gì. Phần nào là kiến thức bổ sung hoặc cách gom của LUKATO đều được ghi rõ; tên cơ sở kinh doanh và nhân vật trong bài là hư cấu, số liệu trong lab là số liệu minh họa.
- 1 Bốn bên nào đang nhìn vào một doanh nghiệp, và mỗi bên cần điều gì ở doanh nghiệp?
- 2 Việc nào bắt buộc, việc nào nên làm, việc nào tự nguyện, và vì sao chúng không đổi chỗ cho nhau được?
- 3 Một thông điệp đẹp trên quảng cáo khác gì một hành động có bằng chứng?
4 bên
người lao động, khách hàng, môi trường, cộng đồng
12 lab
phân loại, tìm lỗi, thanh trượt, từng bước, rẽ nhánh, ghép đôi, công tắc, trò chơi, xếp thứ tự
14 bẫy
mỗi bẫy gắn với một mục và một phòng lab; nhiều bẫy còn có bài để quay lại luyện
10 bài
8 chọn đáp án và 2 đúng sai
01
Bản đồ chung
Bốn bên, bốn khía cạnh và hai câu hỏi để đọc một hành động
Hai xưởng giày vải nằm trên cùng một con đường ở rìa thị xã, bán cùng một mẫu giày với giá gần bằng nhau. Xưởng Lục Bình ghi rõ giờ làm và tiền lương trong hợp đồng, tập huấn cho thợ mới trước khi đứng máy, in đúng chất liệu lên hộp, lọc nước keo trước khi xả và để lại số điện thoại cho dân quanh vùng phản ánh. Xưởng Tân Phú bán rẻ hơn một chút nhờ bỏ bớt những việc ấy. Vài tháng đầu, hai xưởng gần như giống nhau trên sổ sách. Sự khác nhau chỉ lộ ra khi có chuyện: một lô giày bị khách trả vì chất liệu không đúng như hộp ghi, một đợt kiểm tra, một mùa thợ lành nghề sang xưởng khác, một buổi dân trong xóm phản đối mùi keo. Bài này không dự đoán xưởng nào sẽ lời hơn. Nó dạy cách đọc: mỗi việc doanh nghiệp làm đang trả lời cho bên nào, thuộc khía cạnh nào, và có bằng chứng gì. Hai câu hỏi ấy dùng được cho nhiều tình huống lạ.
Vuốt ngang để xem đầy đủ hình.
Bản đồ hai trục: hàng trên là bốn đối tượng (mục 4 đến mục 7), hàng dưới là bốn khía cạnh (mục 3). Bấm vào một ô để đọc mô tả ngắn và biết nó được học ở mục nào.
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là gì
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (viết tắt là CSR, từ tiếng Anh corporate social responsibility) là cam kết và hành động của doanh nghiệp nhằm góp phần vào phát triển bền vững : vừa kinh doanh có lợi nhuận hợp pháp, vừa quan tâm đến lợi ích của người lao động, khách hàng, cộng đồng và môi trường (cách diễn đạt ở mức khái niệm). Hai chữ «xã hội» nhắc rằng doanh nghiệp không đứng một mình: nó dùng sức người, tài nguyên và niềm tin của người khác để làm ra lợi nhuận, nên có phần phải đáp lại.
Để gọn, bài này chia các bên thành bốn đối tượng. Trong thực tế còn có những bên liên quan khác như nhà cung cấp, đối tác, cơ quan quản lí (kiến thức bổ sung); riêng nhà cung cấp sẽ được bàn ở mục 7 vì họ nằm trên đường đi của sản phẩm. Mỗi đối tượng gắn với một mục: mục 4 cho người lao động, mục 5 cho khách hàng, mục 6 cho môi trường, mục 7 cho cộng đồng. Mục 2 trả lời vì sao CSR có lợi, mục 3 chia trách nhiệm thành bốn khía cạnh.
Đối tượng: người lao động
Người làm việc cho doanh nghiệp cần an toàn khi làm, quyền lợi theo thỏa thuận và theo pháp luật, được đối xử tôn trọng và có cơ hội học để làm việc tốt hơn.
Đối tượng: khách hàng
Người mua và dùng sản phẩm cần sản phẩm đúng chất lượng, an toàn, thông tin đúng với thực tế và nơi để phản ánh khi có vấn đề.
Đối tượng: môi trường
Đất, nước, không khí và tài nguyên không biết lên tiếng. Doanh nghiệp đại diện cho phần tác động của mình: giảm ô nhiễm, xử lí chất thải, dùng tài nguyên hợp lí.
Đối tượng: cộng đồng
Dân cư và địa phương quanh nơi doanh nghiệp hoạt động chịu ảnh hưởng của tiếng ồn, giao thông, việc làm và cũng có thể nhận hỗ trợ khi nhu cầu đúng với khả năng của doanh nghiệp.
Bảng hai trục: bốn nhân bốn ô
Bảng dưới đặt bốn khía cạnh theo hàng và bốn đối tượng theo cột. Mỗi ô nêu một ví dụ ngắn để em thấy cùng một đối tượng có thể được đáp lại theo nhiều khía cạnh. Một hành động có thể liên quan đến nhiều ô; khi xếp, em chọn bên hưởng lợi trực tiếp cho trục đối tượng và xét tính chất bắt buộc, nên làm hay tự nguyện cho trục khía cạnh.
Khía cạnh
Người lao động
Khách hàng
Môi trường
Cộng đồng
KINH TẾ
tạo việc làm có thu nhập, giúp người làm gắn bó với nghề
làm ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu với giá hợp lí
dùng nguyên liệu và điện tiết kiệm để bớt lãng phí
đóng góp vào thu nhập và hoạt động kinh tế của địa phương
PHÁP LÍ
kí hợp đồng, đóng bảo hiểm, bảo đảm an toàn theo quy định
ghi nhãn và công bố chất lượng theo quy định
xử lí chất thải đạt mức pháp luật cho phép
kê khai và thực hiện nghĩa vụ với nhà nước đầy đủ
ĐẠO ĐỨC
đối xử công bằng, tôn trọng nhân phẩm, lắng nghe góp ý
nói đúng điều khách cần biết, không đánh vào nỗi sợ
không lấy cớ chưa có quy định để làm điều gây hại
tôn trọng nếp sinh hoạt của dân cư quanh nơi làm
ĐÓNG GÓP TỰ NGUYỆN
lập quỹ giúp thợ gặp hoàn cảnh khó khăn
mở lớp kĩ năng chi tiêu hợp lí miễn phí cho người mua ở địa phương, không quảng bá sản phẩm của xưởng
dọn dẹp, trồng cây ở khu đất trống quanh xưởng
dựng điểm sinh hoạt chung cho khu dân cư
Bốn đối tượng và cách gom hai trục thành bảng bốn nhân bốn là cách học của LUKATO, không phải một bảng cố định trong văn bản nào. Ví dụ trong ô chỉ để minh họa; ranh giới giữa các khía cạnh được bàn kĩ ở mục 3.
Từ điển một dòng: đưa chuột hoặc chạm vào chữ gạch chân
Thuật ngữ
Nghĩa ngắn
Mục
trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Cam kết và hành động vì lợi ích của nhiều bên
người lao động
Người làm công việc có thỏa thuận và tiền lương
an toàn, vệ sinh lao động
Phòng tai nạn và bệnh nghề nghiệp
nhãn hàng hóa
Thông tin gắn trên sản phẩm
thu hồi sản phẩm
Đưa lại hàng đã bán có vấn đề
phát thải
Đưa chất ô nhiễm ra môi trường
tái chế
Biến vật liệu cũ thành nguyên liệu mới
greenwashing
Truyền thông xanh gây hiểu lầm
chuỗi cung ứng
Đường đi từ nguyên liệu đến người dùng
thẩm định nhà cung cấp
Xem xét bên cung cấp có đáng tin không
minh bạch
Công khai và dễ kiểm tra
uy tín
Sự tin cậy hình thành qua thời gian
nghĩa vụ pháp lí
Việc luật yêu cầu phải làm
đạo đức kinh doanh
Chuẩn mực về điều nên và không nên
thiện nguyện
Giúp đỡ do tự nguyện
đóng góp cho cộng đồng
Hoạt động hỗ trợ cộng đồng do doanh nghiệp tự chọn
3,7
Đoán trước, rồi thử tay
Đoán trước: một thợ trẻ góp ý rằng quạt thông gió đặt chưa hợp chỗ, và xưởng Lục Bình đổi chỗ quạt theo góp ý ấy. Hãy chọn bên được lợi trực tiếp trước, rồi mở phòng lab 1.
Việc đổi chỗ quạt thông gió theo góp ý của thợ trẻ trước hết hướng về bên nào?
Chỗ dễ nhầm ở khung hai trục
Khung hai trục là công cụ để đọc một tình huống, không phải bảng bắt buộc điền đủ mười sáu ô. Ba chỗ hay trượt: cho rằng chỉ những việc làm thêm cho cộng đồng mới là trách nhiệm xã hội; xếp một hành động theo hình thức của nó (có tặng quà, có bài đăng) thay vì theo bên được lợi; và nghĩ rằng một việc chỉ được xếp vào đúng một ô. Việc tập huấn an toàn vừa hướng về người lao động vừa là một nghĩa vụ pháp lí. Vì vậy ở lab, mỗi bài có một câu hỏi đủ rõ để chọn một ô.
Cách dùng phòng lab
Chạm một thẻ rồi chạm một ô để xếp, hoặc kéo thẻ vào ô (trên màn hình cảm ứng, nắm vào phần chấm ở đầu thẻ). Sau khi bấm «Chấm các thẻ đã xếp», thẻ đúng viền xanh, thẻ sai viền đỏ và dòng kết luận giải thích ba thẻ sai đầu tiên. Phòng lab này luyện bẫy 1 và 2, sẽ gặp lại ở mục 9.
Thử tay: đọc một thông cáo bằng hai câu hỏi
Xưởng Lục Bình gửi bản tin cuối quý: «Quý này xưởng tập huấn an toàn cho 14 thợ mới theo quy định, đóng bảo hiểm cho người lao động thuộc diện phải đóng, hỗ trợ bàn ghế cho trường tiểu học đầu xã và lắp thêm bộ lọc cho ống xả nước keo.» Hãy tách từng việc, rồi gắn đối tượng và khía cạnh.
Gợi ý 1 | Tách việc
Bản tin có bốn việc: tập huấn an toàn, đóng bảo hiểm, hỗ trợ bàn ghế cho trường và lắp bộ lọc cho ống xả. Mỗi việc đọc riêng, không gộp.
Gợi ý 2 | Gắn đối tượng
Hỏi: bên nào được lợi trực tiếp? Tập huấn và bảo hiểm hướng về người lao động; bàn ghế cho trường hướng về cộng đồng; bộ lọc ống xả hướng về môi trường.
Gợi ý 3 | Gắn khía cạnh
Hai việc đầu có cụm «theo quy định» và «thuộc diện phải đóng», nên là nghĩa vụ pháp lí. Hỗ trợ bàn ghế là việc xưởng tự chọn nên là đóng góp tự nguyện. Bộ lọc ống xả thuộc môi trường; bản tin chưa cho biết có phải yêu cầu bắt buộc hay không, nên cần hỏi thêm.
Kết luận
Bản tin chạm ba trong bốn đối tượng và không nhắc đến khách hàng. Đó là chỗ để hỏi tiếp: xưởng đã làm gì cho người mua giày? Một bản tin hay không cần có đủ mười sáu ô, nhưng người đọc cần biết ô nào còn trống.
Mục 9 gom mười bốn kiểu nhầm nghe hợp lí thành các thẻ lật cùng một bảng đối chiếu; mục 10 là mười bài chọn lọc và báo cáo học tập.
02
Khái niệm, vai trò và lợi ích
Vì sao một doanh nghiệp nên quan tâm đến bốn bên
Cuối năm, chủ xưởng Lục Bình họp với các quản lí. Sổ sách có ba khoản chi mà xưởng Tân Phú không có: tập huấn an toàn, bước đối chiếu nhãn trước khi xuất kho và bộ lọc ống xả nước keo. Anh kế toán đề nghị cắt cả ba để hạ giá bán. Chị Ngần, quản lí xưởng, hỏi lại ba câu. Nếu một thợ bị thương thì xưởng mất những gì? Nếu một lô giày bị trả vì nhãn sai thì mất những gì? Nếu dân trong xóm phản đối mùi keo thì mất những gì? Cuộc họp không kết thúc bằng câu «chi tiền là đúng». Nó chỉ cho thấy ba khoản chi kia nằm trong một phép tính rộng hơn phép tính của riêng quý này. Mục này giải thích phép tính rộng ấy: CSR không phải là gì, vì sao nó không đối lập với lợi nhuận, và lợi ích của nó đến với ai.
Ba cách hiểu hẹp cần gỡ trước
Nhiều người nghe «trách nhiệm xã hội» thì nghĩ ngay đến tặng quà hoặc quyên góp. Ba cách hiểu hẹp dưới đây đều có một phần đúng, nên dễ bị tin.
Không chỉ là từ thiện
Tặng, tài trợ là một cách thể hiện, nằm ở khía cạnh đóng góp tự nguyện. Nhưng trách nhiệm xã hội còn gồm việc làm ra sản phẩm tốt, trả lương đúng, tuân thủ pháp luật, đối xử tử tế. Những việc ấy diễn ra mỗi ngày, không cần ai chụp ảnh.
Không chỉ là truyền thông
Một bài đăng đẹp có thể kể lại việc đã làm. Bài đăng không thay cho việc đó. Khi lời nói đi trước việc làm, người nghe nhanh chóng mất tin, và doanh nghiệp mất cả phần uy tín đã gây dựng.
Không chỉ là làm đúng luật
Làm đúng và đủ nghĩa vụ pháp luật là nền móng, và là phần không được bỏ qua. Nhưng trách nhiệm xã hội còn nhìn xa hơn mức tối thiểu: có những việc pháp luật chưa quy định chi tiết mà đạo đức kinh doanh vẫn đòi hỏi.
Lợi nhuận và trách nhiệm: quan hệ gì
Doanh nghiệp được lập ra để kinh doanh kiếm lợi nhuận hợp pháp. Không có lợi nhuận thì doanh nghiệp khó tồn tại, người lao động mất việc, khách mất nguồn cung. Vì vậy lợi nhuận hợp pháp là điều kiện để thực hiện trách nhiệm, không phải thứ trách nhiệm xã hội đứng đối diện. Điều trách nhiệm xã hội đặt ra là cách kiếm lợi nhuận. Có hai cách để giữ giá bán thấp: làm việc hiệu quả hơn, hoặc để một phần chi phí rơi sang người khác, chẳng hạn người thợ phải chịu rủi ro tai nạn, dân quanh xưởng phải hít mùi keo, khách phải tự chịu hậu quả khi mua nhầm. Cách đầu tạo giá trị. Cách sau chỉ dịch chuyển chi phí từ doanh nghiệp sang người khác (đây là cách diễn đạt của LUKATO để dễ hình dung, không phải một thuật ngữ trong sách). Trách nhiệm xã hội đòi doanh nghiệp tự gánh phần chi phí do hoạt động của mình gây ra.
Lợi ích đối với doanh nghiệp
Thực hiện trách nhiệm xã hội đòi hỏi tiền, thời gian và sự chú ý. Doanh nghiệp có thể nhận lại những lợi ích sau.
Uy tín và niềm tin
Khách hàng, đối tác và ngân hàng đánh giá một doanh nghiệp qua những gì nó đã làm khi không ai ép. Niềm tin gây dựng chậm và mất nhanh, nên nó có giá trị khi cần hợp tác lâu dài.
Bớt rủi ro
Chuẩn bị an toàn, kiểm tra thông tin, xử lí chất thải đúng cách làm giảm khả năng tai nạn, khiếu nại, bị xử phạt hay bị cộng đồng phản đối. Ít sự cố nghĩa là ít chi phí khắc phục và ít gián đoạn.
Giữ và thu hút nhân lực
Người lao động ở lại lâu hơn khi cảm thấy an toàn, được tôn trọng và có cơ hội học. Giữ được thợ lành nghề giúp doanh nghiệp đỡ chi phí tuyển và đào tạo lại.